Dược đức vs Điều dưỡng đức vs Bác sĩ đức?

TỔNG HỢP VÀI ĐIỀU VỀ Y ĐỨC

(Sưu tầm)

 Y đức là cách cư sử hợp đạo lý

Behave: cư xử, ứng xử, hành xử

Behavior: cư xử, hành vi

 Đức là cách cư xử là thái độ tốt đẹp hợp với đạo lý (Nhân-Nghĩa-Lễ-Trí-Tín là năm đức căn bản  ~  ngũ thường. Trích Từ Điển Tiếng Việt);

Người làm nghề y phải thêm một đức nữa là "Y đức" - đức đó là cách cư sử với nhau và với người bệnh sao cho tốt đẹp hợp đạo lý!.

 

Đạo lý

 Đạo lý, hay nguyên lý đạo đức, luân thường đạo lý, đạo làm người, nhơn đạo, đạo nghĩa, nghĩa lí là những cái lẽ hợp với khuôn phép, đạo đức (moral) ở đời.

Đạo làm người hay Nhơn đạo luôn lấy các đức tính sau đây làm khuôn vàng, thước ngọc. Đó là 15 đức tính, như: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín (Ngũ thường), trung, hiếu, để, liêm, sỉ, trinh, và công, ngôn, dung, hạnh (Tứ đức). 

  1. NHÂN: là lòng thương người, mà còn là lòng từ bi đối với vạn vật, và luôn quý trọng sự sống.
  2. NGHĨA: là làm việc thuận theo lẽ phải, có trước có sau, có thủy có chung; và luôn không quên ơn người từng cưu mang hay giúp đỡ mình dù là một việc nhỏ nhất bằng tinh thần hay vật chất một cách chân chính. Ngoài ra, "nghĩa" còn có nghĩa là thấy người hoạn nạn, nguy hiểm, … thì tự nguyện giúp đỡ không điều kiện, chính là nghĩa cử cao đẹp vậy.
  3. LỄ: là sự cung kính thật sự, biết vâng lời người bề trên một cách chân chính, nếu bề trên lỡ không làm vừa ý mình thì cũng không được vô phép, mà phải khéo léo, nhẹ nhàng trong lời nói, có được như vậy mới gọi là lễ độ.
  4. TRÍ: là sự sáng suốt. Bởi vậy chữ "trí" được phân ra 2 loại: * Trí tuệ: tức khôn ngoan (sage), * Trí xão: tức ranh ma (malin).
  5. TÍN: là sự tin tưởng, còn gọi là uy tín hay tín nhiệm. Tuy nhiên, không nên nhẹ dạ cả tin. Chữ tín ở đây có nghĩa là: "khi ta hứa với ai điều gì, thì mình phải nhớ lời hứa ấy, và hãy gắng thực hiện cho bằng được", không nên hứa với ai điều chi rồi lại thất tín, đôi ba lần trở thành bội tín, hoặc tráo trở. Đó là một việc tội lỗi, trừ phi vì lẽ gì đó (quá bận rộn chẳng hạn) mà ta quên thì phải xin lỗi người và tái thực thi lời hứa ấy.
  6. TRUNG: là sự trung thành, trung hòa, trung dung, hay trung thứ… có nghĩa là không thiên hữu, mà cũng chẳng thiên tả; không vì thế lực, giàu có mà phải a dua, nịnh bợ; không vì nghèo khó, thế cô mà lại xem coi thường, khinh rẽ. Thông thường chữ "trung" thường được dùng để nói đến: trung với tổ quốc, trung với thầy cô, trung với bạn bè, … và thành thật với mọi người, trừ phi đối với những kẻ ác độc, xấu xa thì giữ kín trong lòng đừng lộ ra cho họ biết, mà nguy hiểm đến mình.
  7. HIẾU: là sự hiếu thảo đối ông bà, cha mẹ của cuộc đời thường, là người thì phải luôn nhớ ơn hai Đấng Cha Mẹ sinh ra nòi giống của mình (dân tộc VN có Cha LẠC-LONG-QUAN * Mẹ ÂU-CƠ).
  8. ĐỄ: là cách thuận hòa, êm đẹp trong mối quan hệ giữa anh chị em, hoặc bạn bè hay đối tác … để có kết quả thơm thảo với nhau. Từ việc cá nhân, gia đình, đến xã hội, quốc gia dân tộc đều phải nên thuận thảo với nhau, gọi là đoàn kết, tiến đến đại đoàn kết thì mới có được sức mạnh tổng hợp đi đến thành công, rồi đại thành công, tức là nhờ sự thuận thảo (không đối nghịch) vậy.
  9. LIÊM: là không tham lam, là trong sạch, của phi nghĩa không dùng, tuyệt đối không buôn bán, tàng trữ, hay bao che cho những kẻ xấu làm điều phi pháp dù việc đó có siêu lợi nhuận. Lợi lộc nào mà do chính sức lao động của mình làm nên thì xứng đáng được thụ hưởng; ngược lại tài sản do người khác làm nên mà chiếm đoạt là kẻ bất lương, thì làm sao liêm chính, liêm khiết được.
  10. SỈ: là sự tự trọng, nếu lỡ làm việc gì sai thì phải nhận lỗi và biết phục thiện, có nghĩa là không tái phạm việc lỗi ấy nữa. Nếu không biết tự trọng tức là không biết xấu hổ. Trong đời sống xã hội, cũng có hạng người có lỗi, hoặc có tội nhưng vẫn cố ý, không ăn năn, hối cãi mà còn đổ trút việc xấu xa hoặc phi pháp cho người khác. Đó là loại gian ác vô liêm sỉ vậy.
  11. TRINH: là sự trong trắng, là trinh tiết. Phụ nữ có chồng thì phải tùng chồng, nếu chồng có bận việc nước non, hoặc đi làm ở phương xa thì người vợ phải giữ gìn ý tứ, nết na, còn gọi là băng trinh.
  12. CÔNG: tức là việc làm, mà hễ muốn có việc làm ổn định thì phải có nghề nghiệp chuyên môn. Có làm được như vậy thì năng suất lao động của mình bỏ ra là quí giá, nhất là về phương diện thời gian và tài chính, sẽ không ỷ lại vào tài sản, của cải của người khác. Và chỉ có kẻ không chịu khó làm việc, ngồi mát ăn bát vàng hay ăn không ngồi rồi, chính là kẻ xấu, bọn bất lương vậy.
  13. NGÔN: là lời nói, khi mở miệng ra thì người thương kẻ mến, có nghĩa là khi muốn nói một câu gì thì phải cân nhắc, kỹ lưỡng, tránh mất lòng người khác; ngoại trừ những kẻ xô bồ, không biết nghe lời hay lẽ phải.
  14. DUNG: là nét đẹp. Làm đẹp (trang điểm, ăn mặc, …) một cách nhẹ nhàng khi tiếp xúc với mọi người là tôn trọng chính mình, tức dung nhan tự nhiên, có nghĩa không diêm dúa, lố lăng, lãng phí, là dung vậy.
  15. HẠNH: tức là nết na, hễ dung là nét đẹp ở bên ngoài thì hạnh là cái nết tốt ẩn bên trong. Có câu: "cái nết đánh chết cái đẹp", nghĩa là có người ngoại hình thật là diễm kiều, lộng lẫy nhưng tánh nết không đàng hoàng, thì cái đẹp ấy vẫn không có giá trị, đó là trơ trẽn.

  

Trăm năm dạy ứng xử nghề nghiệp ở đại học Y Hà Nội

 Trên 100 năm tồn tại, trường Y Đông Dương - nay là đại học Y Hà Nội - có hai cách dạy ứng xử nghề nghiệp cho sinh viên, xuất phát từ hai quan điểm khác nhau.

       1- Quan điểm coi nghề y là một nghề nhân đạo trong mọi xã hội. Đó là trị bệnh cứu người, không phân biệt giàu - nghèo, sang – hèn…

       2- Quan điểm coi nghề y phục vụ đường lối. Trước kia, thầy thuốc phục vụ vua quan, tư bản, nay hoj phục vụ nhân dân, chủ yếu là công-nông-binh.

 

 Phần 1. Về quan điểm nhân đạo của y học

  Liệu nghề y có là nghề cổ nhất, do vậy mà sớm nhất có lời thề?

 Con người xuất hiện cùng bệnh tật. Từ trước đó, Thượng Đế vạn năng đã hoá thân thành thầy thuốc để cắt xương sườn Adam, đặng tạo thành Eva. Có 2 con người, lập tức có trao đổi. Xã hội tự cấp sẽ tiến tới trao đổi hàng hoá, xuất hiện thị trường. Thời đồ đá, đã có tiền bằng vỏ sò.

 Lời thề Hippocrate, trải 2500 năm đến nay đã thay đổi hoàn toàn cho hợp với cơ chế thị trường. Ví dụ, lời thề đọc ở trường Y Đông Dương có câu: Tôi thề chỉ lấy thù lao bằng đúng công sức tôi đã bỏ ra. Nó thể hiện quan hệ công bằng - đặc trưng của một thị trường lành mạnh. Dù thay đổi đến đâu, chung quy lời thề thầy thuốc vẫn là lời thề nghề nghiệp, tuân theo 2 nguyên tắc: a) chỉ gồm những hành vi nghề nghiệp mà thầy thuốc buộc phải làm hoặc buộc phải tránh; b) nó chỉ viện dẫn các bậc tổ nghề mà không viện dẫn các vĩ nhân ngoài nghề. Phần dưới sẽ nói rằng “lời thề” gần đây nhất của trường này không đáng được gọi là lời thề nghề nghiệp vì vi phạm hai nguyên tắc trên.

 

Trường Y Đông Dương

 Năm 1902 người Pháp mở trường Y cho cả xứ Đông Dương, nhưng đặt ở Hà Nội - mà không phải Sài Gòn như dự kiến – vì một mục đích là dùng văn hoá khoa học Âu Tây xoá dần ảnh hưởng của Nho Học đã bén rễ sâu nhất trong xã hội Bắc Kỳ  (đề xuất của Tiểu ban tư vấn do tiến sĩ Henaff đứng đầu)

 - Tại sao mở trường Y mà không phải trường khác? Vì học xong, sẽ có việc ngay và sẽ gần dân – liên quan tới mục đích nói trên. Xưa nay, dù nghề gì thì mục đích số 1 vẫn là kiếm sống, qua đó mà  phục vụ xã hội. Nhưng người Pháp nhận ra, nghề y ở xứ nông nghiệp dễ được người dân tìm đến nhất. Vẫn biết, người bệnh phải trả công, nhưng trong lời thề khi ra trường, có hai nội dung đáng chú ý:

1) Ưu tiên bệnh nặng mà không ưu tiên địa vị xã hội… và:

2) Chữa miễn phí cho người nghèo. Do vậy, thầy thuốc khó mà xa dân. Đã vậy, Quy Chế còn nhắc: khi ra trường “phải làm việc ba năm ở miền núi”. 

 

Vì sao nghề y (và một số nghề khác) phải có lời thề nghề nghiệp?

- Một số nghề dễ chiếm được lòng tin mà người hành nghề có thể lợi dụng để mưu lợi bất chính. Người bệnh tin thầy thuốc tới mức phó thác cả sức khoẻ, sinh mệnh và sẵn sàng phô bày cả thân thể, tâm trạng. Khốn nỗi, pháp luật cho tới nay vẫn chưa đủ trình độ phát hiện những sai phạm do lợi dụng lòng tin của một số nghề. Sự thiếu sót này được khắc phục - nhiều hay ít - bằng lời thề nghề nghiệp. Trong khi đó, nghề kinh doanh không cần thề “không cân điêu”.. vì pháp luật và người tiêu dùng có cách phát hiện sự gian trá đó.

- Do vậy, lời thề sẽ giảm hoặc mất tác dụng nếu niềm tin trong xã hội suy giảm.

- Vài nghề khác cũng có lời thề: Nghề xử án, nghề quân nhân.

 

Thực tế dạy ứng xử nghề nghiệp trước 1945

Đó là thứ đạo đức phi giai cấp, phi ý thức hệ, với tính nhân đạo chung chung, sau này rất bị phê phán khi chỉnh huấn. Trường Y xưa có nhiều cách dạy theo quan điểm này.

 

- Đọc Lời Thề

Quan trọng, nhưng chỉ là một tiết mục trong buổi lễ phát bằng ngắn ngủi. Lời thề đã khác xa nguyên bản thời Hippocrate vì đã cách nhau gần 2500 năm.

Sau 1945, trường Y Hà Nội bỏ thủ tục “thề bồi”. Do vậy, đến nay những người vừa rưng rưng lệ, vừa bàn tay trái đặt lên ngực, còn cánh tay phải giơ lên tuyên thệ… không ai còn sống nữa, nhưng một số điều trong lời thề có lẽ vẫn được dân Việt hôm nay tha thiết mong thành hiện thực.

  Ví dụ: Tôi xin thề chỉ lấy thù lao bằng đúng công sức mà tôi đã bỏ ra. Nó giúp duy trì lương tâm nghề nghiệp. Nội dung khác: Tôi chữa bệnh miễn phí cho người nghèo. Nó hạn chế cái quan hệ lạnh lùng “tiền trao, cháo múc. Và nữa: Tôi nguyện đem mọi năng lực và phương tiện trong tay làm những đều có ích nhất cho bệnh nhân. Nó thể hiện trách nhiệm đặc trưng của nghề…

 Không phải vị thầy thuốc tân khoa nào cũng nhớ suốt đời những nội dung quan trọng nhất của lời thề. Cụ Vũ Công Hoè ra trường 1936 nhưng gần nửa thế kỷ sau được hỏi lại, thì… “chỉ còn nhớ láng máng”. Có thể do cụ Hoè cả đời không trực tiếp chữa bệnh, mà chỉ cặm cụi nghiên cứu trên các tử thi. Tuy nhiên, cụ lại rất nhớ thầy Lucas Championnière đã giảng rất hay về cách ứng xử hợp đạo đức. Vị thầy này cứ đặt ra những tình huống éo le và hỏi học trò: Nếu gặp trường hợp như vậy, các anh sẽ ứng xử thế nào… Sinh viên phải vận dụng lý thuyết đã học (môn Quy Chế Hành Nghề) để trả lời. Hoá ra, cách dạy case study hiện nay chưa phải sáng tạo gì ghê gớm.

 Như vậy, ngoài đọc lời thề (tới tận cuối khoá học mới có dịp thực hiện) thì vấn đề là hàng ngày sinh viên đã học gì và các thầy đã nêu gương thường nhật ra sao... 

 

 - Điều nay dễ hiểu lầm

Trường không có môn lý thuyết “Đạo Đức”, kể cả “Đạo Đức Y Học”. Đạo đức nghề nghiệp chỉ thể hiện ở cách ứng xử, mà không ở chỗ thuộc làu làu lý thuyết. Không có vị đạo cao đức trọng nào dùng cách nói thao thao: “anh phải thế này”, “anh nên thế khác”… mà sinh viên trở thành nhà đạo đức. Tuy nhiên, có một môn được dạy: môn Quy Chế Hành Nghề (Deontology), vừa lý thuyết, vừa thực hành. Các cựu sinh viên cho biết: Chỉ các GS kỳ cựu nhất mới được cử ra “kiêm” dạy môn này, ví dụ GS  Sollier (chuyên khoa Tai-Mũi-Họng); nhưng GS Vũ Công Hoè lại nói, từng học môn này từ vị thầy khá trẻ: Lucas Championnière. Đó là môn dạy hành xử sao cho phù hợp quy chế, pháp luật và đạo đức thầy thuốc.   

 

  - Những “người muôn năm cũ”.

Trường Y Đông Dương mở trước khi có bậc trung học, thí sinh trẻ nhất được tuyển mới có 15 tuổi (ví dụ, Phạm Đình Minh, sinh 1887, ở số 100 phố Hàng Gai, hoặc Trần Đình Huy, sinh cùng năm, số 41 Hàng Bạc) chưa có đủ kiến thức cơ bản cần thiết. Họ phải bổ túc Toán, Hoá, Sinh, Pháp văn… Ra trường, với danh hiệu “y sĩ Đông Dương”, hưởng lương như cao đẳng, phụ trách y tế cả một tỉnh và dứt khoát phải làm việc 3 năm ở miền núi (Trần Đình Đệ lên Hoà Bình; Đỗ Xuân Hợp lên Yên Bái, Martin lên Phú Thọ…). Phải 30 năm sau mới có đủ tú tài để trường này chuyển sang đào tạo bác sĩ.

 Thập niên 50 của thế kỷ trước, y sỹ Đông Dương của những khoá muộn nhất (ra trường từ 1922 tới 1930), chỉ còn sót lại 41 vị. Thời xa lắc đó, trong lễ tốt nghiệp nhiều vị còn mặc quốc phục (áo dài, khăn xếp) dáng dấp như những cụ lang.

  Điển hình là các cụ Vũ Đình Tụng (bộ trưởng Thương Binh), Nguyễn Kính Chi (thứ trưởng Y Tế), Trần Văn Lai (Đốc Lý Hà Nội), Nguyễn Đức Khởi (giám đốc Y tế Hà Nội), Hoàng Sử (thầy thuốc hoàng gia, sau là chủ nhiệm Bộ Môn X-quang), Đỗ Xuân Hợp (chủ nhiệm bộ môn Giải Phẫu)… Sinh viên Lê Văn Khải khi thực tập ở tỉnh Hoà Bình, đã mô tả cụ Trần Đình Đệ có phong cách như nhân vật Lỗ Túc (thời Tam Quốc).

 Ngạc nhiên là năm 1955 khi một số vị y sỹ Đông Dương về trường dự sát hạch để được công nhận bác sĩ, họ vẫn có những nét chung rất dễ nhận ra, cứ như đúc từ cùng một cái “khuôn đạo đức” vậy. Đó là tác phong đĩnh đạc; tính cách đôn hậu, nói năng khúc chiết, ôn tồn…

 

- Tấm gương từ những ông thầy

Các thầy Pháp sang Việt Nam đều hoàn toàn tự nguyện, vì:

    1) vẫn hưởng lương “chính quốc”, lại thêm phụ cấp 100%; và do vậy lương họ cao gấp 4 hay 6 lần lương một bác sĩ Việt Nam (ăn lương “thuộc địa”).  

    2) bệnh tật nhiệt đới phong phú, rất sẵn đề tài để nghiên cứu.

 

Dễ hiểu, họ không cần khám tư, không ham làm quan, mà chỉ hăm hở nghiên cứu. Về sau, nước Pháp đặt thêm tấm bằng “trên tiến sĩ” (ta dịch là “thạc sĩ y khoa”) thì rất nhiều thầy trường này đã kịp có đủ công trình đáp ứng. Tất nhiên, điều này có lợi cho cá nhân (công danh, sự nghiệp). Nhưng việc áp dụng thành tựu nghiên cứu của họ vào thực tiễn thì dân ta hưởng tất. Không thầy nào tỏ ra kỳ thị chủng tộc, khi thấy sinh viên tôn trọng và biết ơn mình, xuất phát từ một truyền thống lâu đời chứ không phải chỉ do xã giao. Có những thầy lấy vợ Việt Nam, như Le Roy des Barres, dạy từ 1902, sau này là ân nhân của BS Hồ Đắc Di. Có lẽ công ơn lớn nhất của họ là đào tạo ra thế hệ danh nhân y học hiện đại cho Việt Nam: Tôn Thất Tùng, Đặng Văn Ngữ, Đỗ Xuân Hợp, Đặng Văn Chung… Đi trên phố Tôn Thất Tùng, mấy ai nhớ tới các thầy của vị danh nhân này?

  Giáo dục Đông Dương trước 1945 đương nhiên theo mô hình Pháp. Học 3 năm đại học sẽ thành cứ nhân. Học 6 năm, có bảo vệ luận án, được cấp bằng tiến sĩ (ngành y gọi là bác sĩ). Bác sĩ Đặng Văn Ngữ lĩnh 100 đ/tháng, trong khi cử nhân Đào Văn Tiến lĩnh 60 đồng (tương đương 10 và 6 lạng vàng). Các thầy Pháp đều phải có bằng tiến sĩ – bác sĩ - do đại học Y Paris cấp. Năm 1902, trường có 6 tiến sĩ dạy cho 15 sinh viên. Tỷ lệ thầy - trò này đến nay vẫn là quá lý tưởng. 

 Những sự thật nói trên có thời được sinh viên trường Y Hà Nội “vận dụng” trong những đợt chỉnh huấn, để lên án các ông thầy người Pháp là “bọn” bóc lột (lương cao quá), vô chính trị (coi “chuyên” hơn “hồng”) và cá nhân chủ nghĩa (chỉ ham bằng cấp)…

 

- Vài cá tính của các GS Pháp thập niên 30 được sinh viên nhớ lâu

     Lucas Championnière có ông nội sáng lập một tạp chí y khoa, có cha là viện sỹ, bản thân ông tự nguyện sang Đông Dương để đào tạo, mà không vì thu nhập. Do vậy, rất được sinh viên yêu kính về phẩm chất và khâm phục về chuyên môn. Ông dạy Ngoại Khoa, và dạy cả môn Quy Chế Hành Nghề. Ông mất ở Việt Nam vì một bệnh nhiệt đới, được sinh viên thương xót tiễn đưa về tận Hải Phòng (thi hài đưa về Pháp). GS Hoè coi ông này là Yersin thứ hai của trường.

     Henri Coppin rất giỏi về các bệnh lây, nhưng cũng mất sớm vì lây bệnh.

     Naudin thương cả sinh viên lẫn bệnh nhân. Hồi đó, đồng bào ta đói ăn, rét mặc (tuy không có bệnh) nhưng vẫn được sinh viên cho nhập viện để được ăn mỗi ngày 2 bữa cơm đạm bạc, nhưng miễn phí. Khi thầy khám, không phát hiện bệnh gì, sinh viên đành thú thật: cho vào viện để… cứu đói. Thầy liền đọc to câu danh ngôn y học: Kết luận một con người hoàn toàn không có bệnh là điều khó nhất của y học (ý nói, ai cũng có bệnh). Các anh theo dõi, khám cho kỹ, thế nào cũng tìm ra một tên bệnh để ghi vào bệnh án cho “hợp lệ”.

     Sollier rất hay gắt với sinh viên và bệnh nhân, kể cả khi vợ ông tới khám. Ông ghét tác phong luộm thuộm của sinh viên và ý thức phòng bệnh kém của người bệnh. Tuy nhiên, với sự trong sáng và tính tình thẳng “ruột ngựa” ông vẫn được cử dạy môn Quy Tắc Hành Nghề. Gia đình ông gồm bà vợ và 5 cô con gái nổi tiếng là ngoan đạo, rất chăm đi lễ nhà thờ.

     Polidori dạy môn Nhi Khoa. Khi khám bệnh ông không bắt bà mẹ ra ngoài (vì đứa trẻ khóc rất dữ trước “ông Tây”) mà cứ để bà ta bế con, dù điều này trái quy chế. Ông khám bệnh rất tỉ mỉ và phát hiện nhiều triệu trứng ẩn giấu khiến những sinh viên khám trước phát hoảng…

 

Phần 2. Dạy quan điểm, đường lối trong ứng xử nghề nghiệp

  Ban đầu, vẫn theo nếp cũ

 Trong 13 giáo sư đầu tiên của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà - công bố tháng 1 và tháng 10-1955 - có 11 vị thuộc ngành Y (1 ở ngành Dược và 1 ở ngành Toán). Điều này không khó hiểu, nếu biết rằng năm 1935 trường này đã làm lễ tốt nghiệp cho khoá tiến sĩ đầu tiên, trong khi các trường khác chỉ đào tạo cử nhân. Các vị này cùng tất cả các vị lão thành khác của ngành Y (tốt nghiệp trước 1945) đều hấp thu đạo đức y học “phi giai cấp” dưới thời thuộc Pháp.

Khi theo cụ Hồ đi kháng chiến (1946), họ hành xử nghề nghiệp và đào tạo sinh viên cũng theo tinh thần ấy, kết hợp thêm tinh thần yêu nước. Trong kháng chiến chống Pháp, sinh viên y năm thứ 3, 4 và 5 đã mặc áo lính, phụ trách quân y cấp tiểu đoàn, trung đoàn và đại đoàn. Mỗi năm họ chỉ được về trường ít tháng để học, do vậy họ rất biết cần học gì. Ứng xử nghề nghiệp không thể dạy thành bài riêng, mà được lồng vào các bài giảng chuyên môn kèm những ví dụ thực tế - trong đó bản thân các thầy và các vị đàn anh là những tấm gương sống động.

 

1952: Bắt đầu giáo dục quan điểm Công-Nông

  Mục đích, để sinh viên y khoa thấy rõ, từ nay người chủ đất nước là Công, Nông. Trường này là của công nông, dành cho công nông. Đó là nơi Công Nông được “trí-thức-hoá”, đặng lãnh đạo cách mạng. Thành phần tuyển sinh sẽ thay đổi cơ bản. Còn trí thức, trước đây phục vụ giai cấp thống trị, nay vẫn được đảng sử dụng. Họ phải tự thấy vinh dự được phục vụ công nông và qua đó mà tự cải tạo lập trường, quan điểm.  Với mục đích này, từ nay các thầy chuyên môn mất hẳn vai trò dạy ứng xử nghề nghiệp, nhường vị trí này cho các thầy dạy Chính Trị.

 - Quan điểm mới được quán triệt từ năm 1953, khi trường tham gia cải cách ruộng đất - trước đó là một đợt chỉnh huấn, chuẩn bị tư tưởng. Mỗi người, cả thầy lẫn trò, đều tự kiểm điểm và nêu quyết tâm gột bỏ mọi tư tưởng sai trái. Lớp trẻ nhiệt huyết với lý tưởng Cộng Sản đã tự đề ra quyết tâm: Trí thức phải “công-nông hoá” triệt để.

- Tiếp đó, là liên tục các đợt chỉnh huấn khác: dịp tiếp quản Hà Nội (để đề phòng tiêm nhiễm tư tưởng tư sản), dịp đấu tranh chống Nhân Văn – Giai Phẩm (chống tự do kiểu tư sản), hoặc dịp xác định trường đại học Y là một pháo đài XHCN…

- Dẫu vậy, ngày 27-2-1955 cụ Hồ gửi thư cho ngành y tế (lạ một điều), Cụ không nhắc tý gì tới quan điểm giai cấp, mà chỉ nhấn 2 điều: Đoàn kết hơn nữa; và phải “biết đau cái nỗi đau của người bệnh”. Khẩu hiệu Cụ nêu: Thầy thuốc giỏi phải như mẹ hiền. Như vậy, hai vế mà một bậc danh y Trung quốc đề ra (nói về Tài và Đức thầy thuốc: Lương y như luơng tướng và Lương y như từ mẫu) cụ Hồ chỉ dùng vế thứ hai. May thay, chính nhờ vậy, sinh viên y (thuộc giai cấp tiểu tư sản) tuy một mặt phải phấn đấu về quan điểm, lập trường để được coi là con em Công Nông, nhưng mặt khác vẫn được phép tu dưỡng y đức để trở thành mẹ hiền của bệnh nhân, trước hết là bệnh nhân công-nông.

 

Tăng cường học Chính Trị

 - Lập trường vững vàng sẽ đương nhiên sinh ra cách ứng xử phù hợp với bệnh nhân – đa số là công-nông.  

Chương trình mới (năm 1958) đã dành tới 1/6 thời gian để sinh viên rèn Chính Trị. Trên thực tế, cách gì cũng không thực hiện nổi cái chương trình đó - kể cả mỗi năm dành ra 1- 2 tháng đưa sinh viên về nông thôn và vùng mỏ để “học tập công nông”. Trong khi đó, các môn y học bị cắt giàm tối đa. Kế hoạch đào tạo bác sĩ chỉ cần 4 năm mới thực hiện một năm đã phá sản. Rốt cuộc, từ 1962 lại quay về quy định của bộ Đại Học: môn Chính Trị được sử dụng 12% thời gian khoá học 6 năm.

- Thi tốt nghiệp: Từ 1959, sinh viên không cần luận án tốt nghiệp, mà thi 2 môn: Chuyên môn và Chính Trị (hồng), trong đó “hồng” quan trọng hơn “chuyên”.

 

Phương châm y tế

 Bộ trưởng Phạm Ngọc Thạch đề ra 5 phương châm y tế, được quán triệt rất kỹ trong toàn ngành. Câu chữ theo thời gian có thể thay đổi, nhưng nội dung cơ bản vẫn vậy (y tế phục vụ công-nông-binh, phục vụ sản xuất và chiến đấu; đi đường lối quần chúng; phòng bệnh hơn chữa bệnh; kết hợp Đông-Tây y…). Trường Y Hà Nội vận dụng bằng cách: lập ra bộ môn Đông Y, tăng thêm giờ cho môn Vệ Sinh, hàng năm cho sinh viên đi lao động ở nông thôn kết hợp tuyên truyền vệ sinh phòng bệnh…

 Sơ kết. Dù quan điểm có được nâng cao, nhưng việc vận dụng chúng vào cách ứng xử cụ thể khi hành nghề… lại hoàn toàn không dễ dàng. Các thầy chính trị không bao giờ đi theo sinh viên tới bệnh viện để hướng dẫn cách ứng xử “đúng” (ngay cả với bệnh nhân là Công-Nông) và uốn nắn những ứng xử “sai”.

 Điều may mắn là cái khẩu hiệu phi giai cấp Thầy thuốc như mẹ hiền vẫn còn được đề cao, các thầy chuyên môn đã dựa vào đó để dạy sinh viên về thái độ ứng xử nhân đạo với mọi người bệnh (bệnh nhân có địa vị cao trong xã hội mới có bệnh viện riêng, sinh viên không bao giờ tới đó thực tập).

 Cũng chính nhờ cái khẩu hiệu phi giai cấp đó mà về sau Bộ Y Tế dựa vào để có thể ban hành bản Quy Định ứng xử cho nhân viên y tế toàn ngành. Đó là các tiêu chuẩn để nhân viên y tế trở thành “mẹ hiền”, bất kể trước mặt mình người bệnh bao nhiêu tuổi.

 

Quả thật, Đổi Mới là quá trình gian khổ

 - Cuốn sơ thảo Lịch Sử 70 năm của trường, do các thầy bộ môn Mác-Lê viết ra (1972) đã thoá mạ “không tiếc lời” quá khứ 43 năm dưới thời thuộc Pháp. Nhưng khi kỷ niệm 80 năm thành lập, thì cái “quá khứ đẹp” này bắt đầu được thừa nhận. Tới khi kỷ niệm 90 năm, tổng bí thư tới dự lễ phát huân chương Độc Lập. 

- Từ thập niên 80, dưới sức ép của các thầy lão thành, trường dạy lại Đạo Đức Hành Nghề. Tuy vậy, các bậc lão thành chưa được đứng trên bục, mà vị trí này vẫn dành cho các thầy Chính Trị. Họ viết ra giáo trình Đạo Đức Học, theo đúng quan điểm Mác-Lênin, tuy rất hay, nhưng cũng rất khó vận dụng vào ứng xử nghề nghiệp. Gần hai chục năm, sinh viên đã học và thi theo giáo trình này.

- Lời Thề tốt nghiệp cũng được phục hồi, nhưng chưa thể gọi đó là lời thể nghề nghiệp (ví dụ, thề trung thành với CNXH; thậm chí “thề” giữ gìn kỷ luật)…

- Năm 1992 đề thi Chính Trị của sinh viên năm cuối vẫn hỏi về lý tưởng và chức năng “người thầy thuốc XHCN”. Nếu trả lời là “để kiếm sống”, qua đó phục vụ xã hội, thì chưa đạt. Phải trả lời là “cống hiến quên mình” mới được điểm cao. Trường chưa điều tra coi thử bao nhiêu % bác sĩ năm đó thực hiện được bao nhiêu % những điều mà chính họ viết ra trong bài thi.

 

Hãy thôi thuyết trình đạo đức. Mà dạy thái độ để tạo kỹ năng ứng xử.

 Phương pháp sư phạm hiện đại cho thấy, trong giáo dục có 3 (và chỉ cần 3) mục tiêu: Kiến thức, Thực hành và Thái Độ. 

Phương pháp này vận dụng vào y học không những cho phép “tích cực hoá người học”, mà dạy mục tiêu Thái Độ chính là nhằm giúp người học ứng xử đúng khi giao tiếp với đối tượng nghề nghiệp (bệnh nhân, người nhà họ, đồng nghiệp và dân cư trong cộng đồng). Nói khác, điều cần đạt là sự hình thành kỹ năng giao tiếp cho người học. Ví dụ, họ phải có kỹ năng giải thích, kỹ năng thuyết phục, kỹ năng an ủi…v.v. Tóm lại, đó là dạy kỹ năng chung sống nói chung và phải dạy ngay từ bậc tiểu học. Lên bậc đại học, chính là môn học dạy ứng xử nghề nghiệp. Hoá ra, từ thời thuộc Pháp trường Y đã có môn này.

Nhớ rằng 4 trụ cột vững chắc của ngôi nhà Giáo Dục (được UNESCO đề ra cho thế kỷ XXI) là: Học để biết, học để làm, học để chung sống và học để tồn tại.  

 Người viết: Nguyễn Ngọc Lanh, nguyên GS đại học Y Hà Nội; NGND

 

  

Quy chế về y đức

(tiêu chuẩn đạo đức của người làm công tác y tế)

(Ban hành kèm theo quyết định số 2088/BYT-QĐ ngày 06 tháng 11 năm 1996 của Bộ trưởng Bộ Y tế)

 

Y đức là phẩm chất tốt đẹp của người làm công tác y tế, được biểu hiện ở tinh thần trách nhiệm cao, tận tụy phục vụ, hết lòng thương yêu chăm sóc người bệnh, coi họ đau đớn như mình đau đớn, như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Lương y phải như từ mẫu”. Phải thật thà đoàn kết, khắc phục khó khăn, học tập vươn lên để hoàn thành nhiệm vụ, toàn tâm toàn ý xây dựng nền y học Việt Nam. Y đức phải thể hiện qua những tiêu chuẩn, nguyên tắc đạo đức được xã hội thừa nhận.

 

1. Chăm sóc sức khỏe cho mọi người là nghề cao quý. Khi đã từ nguyện đứng trong hàng ngũ y tế phải nghiêm túc thực hiện lời dạy của Bác Hồ. Phải có lương tâm và trách nhiệm cao, hết lòng yêu nghề, luôn rèn luyện nâng cao phẩm chất đạo đức của người thầy thuốc. Không ngừng học tập và tích cực nghiên cứu khoa học để nâng cao trình độ chuyên môn. Sẵn sàng vượt qua mọi khó khăn gian khổ vì sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân.

 

2. Tôn trọng pháp luật và thực hiện nghiêm túc các quy chế chuyên môn. Không được sử dụng người bệnh làm thực nghiệm cho những phương pháp chẩn đoán, điều trị, nghiên cứu khoa học khi chưa được phép của Bộ Y tế và sự chấp nhận của người bệnh.

 

3. Tôn trọng quyền được khám bệnh, chữa bệnh của nhân dân. Tôn trọng những bí mật riêng tư của người bệnh; khi khám bệnh, chăm sóc cần đảm bảo kín đáo và lịch sự. Quan tâm đến những người bệnh trong diện chính sách ưu đãi xã hội. Không được phân biệt đối xử người bệnh. Không được có thái độ ban ơn, lạm dụng nghề nghiệp và gây phiền hà cho người bệnh. Phải trung thực khi thanh toán các chi phí khám bệnh, chữa bệnh.

 

4. Khi tiếp xúc với người bệnh và gia đình họ, luôn có thái độ niềm nở, tận tình; trang phục phải chỉnh tề, sạch sẽ để tạo niềm tin cho người bệnh. Phải giải thích tình hình bệnh tật cho người bệnh và gia đình họ hiểu để cùng hợp tác điều trị; phổ biến cho họ về chế độ, chính sách, quyền lợi và nghĩa vụ của người bệnh; động viên an ủi, khuyến khích người bệnh điều trị, tập luyện để chóng hồi phục. Trong trường hợp bệnh nặng hoặc tiên lượng xấu cũng phải hết lòng cứu chữa và chăm sóc đến cùng đồng thời thông báo cho gia đình người bệnh biết.

 

5. Khi cấp cứu phải khẩn trương chẩn đoán, xử lý kịp thời không được đùn đẩy người bệnh.

 

6. Kê đơn phải phù hợp với chẩn đoán và đảm bảo sử dụng thuốc hợp lý, an toàn; không vì lợi ích cá nhân mà giao cho người bệnh thuốc kém phẩm chất, thuốc không đúng với yêu cầu và mức độ bệnh.

 

7. Không được rời bỏ vị trí trong khi làm nhiệm vụ, theo dõi và xử lý kịp thời các diễn biến của người bệnh.

 

8. Khi người bệnh ra viện phải dặn dò chu đáo, hướng dẫn họ tiếp tục điều trị, tự chăm sóc và giữ gìn sức khỏe.

 

9. Khi người bệnh tử vong, phải thông cảm sâu sắc, chia buồn và hướng dẫn, giúp đỡ gia đình họ làm các thủ tục cần thiết.

 

10. Thật thà đoàn kết, tôn trọng đồng nghiệp, kính trọng các bậc thầy, sẵn sàng truyền thụ kiến thức, học hỏi kinh nghiệm, giúp đỡ lẫn nhau.

 

11. Khi bản thân có thiếu sót, phải tự giác nhận trách nhiệm về mình, không đổ lỗi cho đồng nghiệp, cho tuyến dưới.

 

12. Hăng hái tham gia công tác tuyên truyền giáo dục sức khỏe, phòng chống dịch bệnh, cứu chữa người bị nạn, ốm đau tại cộng đồng; gương mẫu thực hiện nếp sống vệ sinh, giữ gìn môi trường trong sạch.

 

Lời thề Hippocrate

 Tôi xin thề trước Apollon thần chữa bệnh, trước Esculade thần y học, trước thần Hygie và Panacée, và trước sự chứng giám của tất cả các nam nữ thiên thần, là tôi sẽ đem hết sức lực và khả năng để làm trọn lời thề và lời cam kết sau đây:

 

Tôi sẽ coi các thầy học của tôi ngang hàng với các bậc thân sinh ra tôi. Tôi sẽ chia sẻ với các vị đó của cải của tôi, và khi cần tôi sẽ đáp ứng những nhu cầu của các vị đó. Tôi sẽ coi con của thầy như anh em ruột thịt của tôi, và nếu họ muộn học nghề y thì tôi sẽ dạy cho họ không lấy tiền công mà cũng không giấu nghề. Tôi sẽ truyền đạt cho họ những nguyên lý, những bài học truyền miệng và tất cả vốn hiểu biết của tôi cho các con tôi, các con của các thầy dạy tôi và cho tất cả các môn đệ cùng gắn bó bời một lời cam kết và một lời thề đúng với Y luật mà không truyền cho một ai khác.

 

Tôi sẽ chỉ dẫn mọi chế độ có lợi cho người bệnh tùy theo khả nĂng và sự phán đoán của tôi, tôi sẽ tránh mọi điều xấu và bất công.

 

Tôi sẽ không trao thuốc độc cho bất kỳ ai, kể cả khi họ yêu cầu và cũng không tự mình gợi ý cho họ; cũng như vậy, tôi cũng sẽ không trao cho bất cứ người phụ nữ nào những thuốc gây sẩy thai.

 

Tôi suốt đời hành nghề trong sự vô tư và thân thiết.

 

Tôi sẽ không thực hiện những phẫu thuật mở bàng quang mà dành công việc đó cho nhưng người chuyên.

 

Dù vào bất cứ nhà nào, tôi cũng chỉ vì lợi ích của người bệnh, tránh mọi hành vi xấu xa, cố ý và đồi bại nhất là tránh cám dỗ phụ nữ và thiếu niên tự do hay nô lệ.

 

Dù tôi có nhìn hoặc nghe thấy gì trong xã hội, trong và cả ngoài lúc hành nghề của tôi, tôi sẽ xin im lặng trước những điều không bao giờ cần để lộ ra và coi sự kín đáo trong trường hợp đó như một nghĩa vụ.

 

Nếu tôi làm trọn lời thề này và không có gì vi phạm tôi sẽ được hưởng một cuộc sống sung sướng và sẽ được hành nghề trong sự quý trọng mãi mãi của mọi người. Nếu tôi vi phạm lời thề này hay tôi tự phản bội, thì tôi sẽ phải chịu một số phận khổ sở ngược lại.