TỔNG QUAN VỀ ĐÀO TẠO VÀ HÀNH NGHỀ BÁC SĨ ĐA KHOA Ở VIỆT NAM

  1. Trường Y Đông Dương

Năm 1902 người Pháp mở trường Y cho cả xứ Đông Dương, nhưng đặt ở Hà Nội, mà không phải Sài Gòn như dự kiến, vì một mục đích là dùng văn hoá khoa học Âu Tây xoá dần ảnh hưởng của Nho Học đã bén rễ sâu nhất trong xã hội Bắc Kỳ  (đề xuất của Tiểu ban tư vấn do tiến sĩ Henaff đứng đầu)

Tại sao mở trường Y mà không phải trường khác?

Vì học xong, sẽ có việc ngay và sẽ gần dân – liên quan tới mục đích nói trên. Xưa nay, dù nghề gì thì mục đích số 1 vẫn là kiếm sống, qua đó mà  phục vụ xã hội.

Nhưng người Pháp nhận ra, nghề y ở xứ nông nghiệp dễ được người dân tìm đến nhất.

Vẫn biết, người bệnh phải trả công, nhưng trong lời thề khi ra trường, có hai nội dung đáng chú ý:

1) Ưu tiên bệnh nặng mà không ưu tiên địa vị xã hội… và:

2) Chữa miễn phí cho người nghèo.

Do vậy, thầy thuốc khó mà xa dân.

Đã vậy, Quy Chế còn nhắc: khi ra trường “phải làm việc ba năm ở miền núi”. 

 2. Vì sao nghề y (và một số nghề khác) phải có lời thề nghề nghiệp?

– Một số nghề dễ chiếm được lòng tin mà người hành nghề có thể lợi dụng để mưu lợi bất chính. Người bệnh tin thầy thuốc tới mức phó thác cả sức khoẻ, sinh mệnh và sẵn sàng phô bày cả thân thể, tâm trạng. Khốn nỗi, pháp luật cho tới nay vẫn chưa đủ trình độ phát hiện những sai phạm do lợi dụng lòng tin của một số nghề. Sự thiếu sót này được khắc phục – nhiều hay ít – bằng lời thề nghề nghiệp. Trong khi đó, nghề kinh doanh không cần thề “không cân điêu”.. vì pháp luật và người tiêu dùng có cách phát hiện sự gian trá đó.

– Do vậy, lời thề sẽ giảm hoặc mất tác dụng nếu niềm tin trong xã hội suy giảm.

– Vài nghề khác cũng có lời thề: Nghề xử án, nghề quân nhân. 

 3. Thực tế dạy ứng xử nghề nghiệp trước 1945

Đó là thứ đạo đức phi giai cấp, phi ý thức hệ, với tính nhân đạo chung chung, sau này rất bị phê phán khi chỉnh huấn. Trường Y xưa có nhiều cách dạy theo quan điểm này. 

a, Lời thề Tốt nghiêp - Việc Đọc Lời Thề

Quan trọng, nhưng chỉ là một tiết mục trong buổi lễ phát bằng ngắn ngủi. Lời thề đã khác xa nguyên bản thời Hippocrate vì đã cách nhau gần 2500 năm.

Sau 1945, trường Y Hà Nội bỏ thủ tục “thề bồi”. Do vậy, đến nay những người vừa rưng rưng lệ, vừa bàn tay trái đặt lên ngực, còn cánh tay phải giơ lên tuyên thệ… không ai còn sống nữa, nhưng một số điều trong lời thề có lẽ vẫn được dân Việt hôm nay tha thiết mong thành hiện thực.

Ví dụ:

Tôi xin thề chỉ lấy thù lao bằng đúng công sức mà tôi đã bỏ ra. Nó giúp duy trì lương tâm nghề nghiệp.

Nội dung khác: Tôi chữa bệnh miễn phí cho người nghèo. Nó hạn chế cái quan hệ lạnh lùng “tiền trao, cháo múc.

Và nữa: Tôi nguyện đem mọi năng lực và phương tiện trong tay làm những đều có ích nhất cho bệnh nhân. Nó thể hiện trách nhiệm đặc trưng của nghề…

Không phải vị thầy thuốc tân khoa nào cũng nhớ suốt đời những nội dung quan trọng nhất của lời thề. Cụ Vũ Công Hoè ra trường 1936 nhưng gần nửa thế kỷ sau được hỏi lại, thì… “chỉ còn nhớ láng máng”. Có thể do cụ Hoè cả đời không trực tiếp chữa bệnh, mà chỉ cặm cụi nghiên cứu trên các tử thi. Tuy nhiên, cụ lại rất nhớ thầy Lucas Championnière đã giảng rất hay về cách ứng xử hợp đạo đức. Vị thầy này cứ đặt ra những tình huống éo le và hỏi học trò: Nếu gặp trường hợp như vậy, các anh sẽ ứng xử thế nào… Sinh viên phải vận dụng lý thuyết đã học (môn Quy Chế Hành Nghề) để trả lời. Hoá ra, cách dạy case study hiện nay chưa phải sáng tạo gì ghê gớm.

Như vậy, ngoài đọc lời thề (tới tận cuối khoá học mới có dịp thực hiện) thì vấn đề là hàng ngày sinh viên đã học gì và các thầy đã nêu gương thường nhật ra sao…  

b,Dạy Y đức - Điều xưa nay dễ hiểu lầm

Trường không có môn lý thuyết “Đạo Đức”, kể cả “Đạo Đức Y Học”. Đạo đức nghề nghiệp chỉ thể hiện ở cách ứng xử, mà không ở chỗ thuộc làu làu lý thuyết.

Không có vị đạo cao đức trọng nào dùng cách nói thao thao: “anh phải thế này”, “anh nên thế khác”… mà sinh viên trở thành nhà đạo đức.

Tuy nhiên, có một môn được dạy: môn Quy Chế Hành Nghề (Deontology), vừa lý thuyết, vừa thực hành. Các cựu sinh viên cho biết: Chỉ các GS kỳ cựu nhất mới được cử ra “kiêm” dạy môn này, ví dụ GS  Sollier (chuyên khoa Tai-Mũi-Họng); nhưng GS Vũ Công Hoè lại nói, từng học môn này từ vị thầy khá trẻ: Lucas Championnière. Đó là môn dạy hành xử sao cho phù hợp quy chế, pháp luật và đạo đức thầy thuốc.    

c,Y sĩ Đông Dương - Những “người muôn năm cũ”.

Trường Y Đông Dương mở trước khi có bậc trung học, thí sinh trẻ nhất được tuyển mới có 15 tuổi (ví dụ, Phạm Đình Minh, sinh 1887, ở số 100 phố Hàng Gai, hoặc Trần Đình Huy, sinh cùng năm, số 41 Hàng Bạc) chưa có đủ kiến thức cơ bản cần thiết. Họ phải bổ túc Toán, Hoá, Sinh, Pháp văn… Ra trường, với danh hiệu “y sĩ Đông Dương”, hưởng lương như cao đẳng, phụ trách y tế cả một tỉnh và dứt khoát phải làm việc 3 năm ở miền núi (Trần Đình Đệ lên Hoà Bình; Đỗ Xuân Hợp lên Yên Bái, Martin lên Phú Thọ…). Phải 30 năm sau mới có đủ tú tài để trường này chuyển sang đào tạo bác sĩ.

Thập niên 50 của thế kỷ trước, y sỹ Đông Dương của những khoá muộn nhất (ra trường từ 1922 tới 1930), chỉ còn sót lại 41 vị. Thời xa lắc đó, trong lễ tốt nghiệp nhiều vị còn mặc quốc phục (áo dài, khăn xếp) dáng dấp như những cụ lang.

 Điển hình là các cụ Vũ Đình Tụng (bộ trưởng Thương Binh), Nguyễn Kính Chi (thứ trưởng Y Tế), Trần Văn Lai (Đốc Lý Hà Nội), Nguyễn Đức Khởi (giám đốc Y tế Hà Nội), Hoàng Sử (thầy thuốc hoàng gia, sau là chủ nhiệm Bộ Môn X-quang), Đỗ Xuân Hợp (chủ nhiệm bộ môn Giải Phẫu)… Sinh viên Lê Văn Khải khi thực tập ở tỉnh Hoà Bình, đã mô tả cụ Trần Đình Đệ có phong cách như nhân vật Lỗ Túc (thời Tam Quốc).

Ngạc nhiên là năm 1955 khi một số vị y sỹ Đông Dương về trường dự sát hạch để được công nhận bác sĩ, họ vẫn có những nét chung rất dễ nhận ra, cứ như đúc từ cùng một cái “khuôn đạo đức” vậy. Đó là tác phong đĩnh đạc; tính cách đôn hậu, nói năng khúc chiết, ôn tồn… 

3. Việc dạy quan điểm, đường lối trong ứng xử nghề nghiệp

 3.1. Ban đầu, từ 45 vẫn theo nếp cũ

Trong 13 giáo sư đầu tiên của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà – công bố tháng 1 và tháng 10-1955 – có 11 vị thuộc ngành Y (1 ở ngành Dược và 1 ở ngành Toán). Điều này không khó hiểu, nếu biết rằng năm 1935 trường này đã làm lễ tốt nghiệp cho khoá tiến sĩ đầu tiên, trong khi các trường khác chỉ đào tạo cử nhân. Các vị này cùng tất cả các vị lão thành khác của ngành Y (tốt nghiệp trước 1945) đều hấp thu đạo đức y học “phi giai cấp” dưới thời thuộc Pháp.

Khi theo cụ Hồ đi kháng chiến (1946), họ hành xử nghề nghiệp và đào tạo sinh viên cũng theo tinh thần ấy, kết hợp thêm tinh thần yêu nước. Trong kháng chiến chống Pháp, sinh viên y năm thứ 3, 4 và 5 đã mặc áo lính, phụ trách quân y cấp tiểu đoàn, trung đoàn và đại đoàn. Mỗi năm họ chỉ được về trường ít tháng để học, do vậy họ rất biết cần học gì. Ứng xử nghề nghiệp không thể dạy thành bài riêng, mà được lồng vào các bài giảng chuyên môn kèm những ví dụ thực tế – trong đó bản thân các thầy và các vị đàn anh là những tấm gương sống động.  

  3.2. Từ 1952: Bắt đầu giáo dục quan điểm Công-Nông

  Mục đích, để sinh viên y khoa thấy rõ, từ nay người chủ đất nước là Công, Nông. Trường này là của công nông, dành cho công nông. Đó là nơi Công Nông được “trí-thức-hoá”, đặng lãnh đạo cách mạng. Thành phần tuyển sinh sẽ thay đổi cơ bản. Còn trí thức, trước đây phục vụ giai cấp thống trị, nay vẫn được đảng sử dụng. Họ phải tự thấy vinh dự được phục vụ công nông và qua đó mà tự cải tạo lập trường, quan điểm.  Với mục đích này, từ nay các thầy chuyên môn mất hẳn vai trò dạy ứng xử nghề nghiệp, nhường vị trí này cho các thầy dạy Chính Trị.

- Quan điểm mới được quán triệt từ năm 1953, khi trường tham gia cải cách ruộng đất

– trước đó là một đợt chỉnh huấn, chuẩn bị tư tưởng. Mỗi người, cả thầy lẫn trò, đều tự kiểm điểm và nêu quyết tâm gột bỏ mọi tư tưởng sai trái. Lớp trẻ nhiệt huyết với lý tưởng Cộng Sản đã tự đề ra quyết tâm: Trí thức phải “công-nông hoá” triệt để.

– Tiếp đó, là liên tục các đợt chỉnh huấn khác: dịp tiếp quản Hà Nội (để đề phòng tiêm nhiễm tư tưởng tư sản), dịp đấu tranh chống Nhân Văn – Giai Phẩm (chống tự do kiểu tư sản), hoặc dịp xác định trường đại học Y là một pháo đài XHCN…

– Dẫu vậy, ngày 27-2-1955 cụ Hồ gửi thư cho ngành y tế (lạ một điều), Cụ không nhắc tý gì tới quan điểm giai cấp, mà chỉ nhấn 2 điều: Đoàn kết hơn nữa; và phải “biết đau cái nỗi đau của người bệnh”. Khẩu hiệu Cụ nêu: “Thầy thuốc giỏi phải như mẹ hiền”. Như vậy, hai vế mà một bậc danh y Trung quốc đề ra (nói về Tài và Đức thầy thuốc: Lương y như luơng tướng và Lương y như từ mẫu) cụ Hồ chỉ dùng vế thứ hai. May thay, chính nhờ vậy, sinh viên y (thuộc giai cấp tiểu tư sản) tuy một mặt phải phấn đấu về quan điểm, lập trường để được coi là con em Công Nông, nhưng mặt khác vẫn được phép tu dưỡng y đức để trở thành mẹ hiềncủa bệnh nhân, trước hết là bệnh nhân công-nông.  

 3.3. Tăng cường học Chính Trị

- Lập trường vững vàng sẽ đương nhiên sinh ra cách ứng xử phù hợp với bệnh nhân – đa số là công-nông. Chương trình mới (năm 1958) đã dành tới 1/6 thời gian để sinh viên rèn Chính Trị. Trên thực tế, cách gì cũng không thực hiện nổi cái chương trình đó – kể cả mỗi năm dành ra 1- 2 tháng đưa sinh viên về nông thôn và vùng mỏ để “học tập công nông”. Trong khi đó, các môn y học bị cắt giàm tối đa. Kế hoạch đào tạo bác sĩ chỉ cần 4 năm mới thực hiện một năm đã phá sản.

Rốt cuộc, từ 1962 lại quay về quy định của bộ Đại Học: môn Chính Trị được sử dụng 12% thời gian khoá học 6 năm. – Thi tốt nghiệp: Từ 1959, sinh viên không cần luận án tốt nghiệp, mà thi 2 môn: Chuyên môn và Chính Trị (hồng), trong đó “hồng” quan trọng hơn “chuyên”.   

 3.4. Phương châm y tế

Bộ trưởng Phạm Ngọc Thạch đề ra 5 phương châm y tế, được quán triệt rất kỹ trong toàn ngành. Câu chữ theo thời gian có thể thay đổi, nhưng nội dung cơ bản vẫn vậy (y tế phục vụ công-nông-binh, phục vụ sản xuất và chiến đấu; đi đường lối quần chúng; phòng bệnh hơn chữa bệnh; kết hợp Đông-Tây y…). Trường Y Hà Nội vận dụng bằng cách: lập ra bộ môn Đông Y, tăng thêm giờ cho môn Vệ Sinh, hàng năm cho sinh viên đi lao động ở nông thôn kết hợp tuyên truyền vệ sinh phòng bệnh… 

Dù quan điểm có được nâng cao, nhưng việc vận dụng chúng vào cách ứng xử cụ thể khi hành nghề… lại hoàn toàn không dễ dàng. Các thầy chính trị không bao giờ đi theo sinh viên tới bệnh viện để hướng dẫn cách ứng xử “đúng” (ngay cả với bệnh nhân là Công-Nông) và uốn nắn những ứng xử “sai”.

Điều may mắn là cái khẩu hiệu phi giai cấp Thầy thuốc như mẹ hiền vẫn còn được đề cao, các thầy chuyên môn đã dựa vào đó để dạy sinh viên về thái độ ứng xử nhân đạo với mọi người bệnh (bệnh nhân có địa vị cao trong xã hội mới có bệnh viện riêng, sinh viên không bao giờ tới đó thực tập).

Cũng chính nhờ cái khẩu hiệu phi giai cấp đó mà về sau Bộ Y Tế dựa vào để có thể ban hành bản Quy Định ứng xử cho nhân viên y tế toàn ngành. Đó là các tiêu chuẩn để nhân viên y tế trở thành “mẹ hiền”, bất kể trước mặt mình người bệnh bao nhiêu tuổi. 

3.5 Đổi Mới là quá trình gian khổ

- Cuốn sơ thảo Lịch Sử 70 năm của trường, do các thầy bộ môn Mác-Lê viết ra (1972) đã thoá mạ “không tiếc lời” quá khứ 43 năm dưới thời thuộc Pháp. Nhưng khi kỷ niệm 80 năm thành lập, thì cái “quá khứ đẹp” này bắt đầu được thừa nhận. Tới khi kỷ niệm 90 năm, tổng bí thư tới dự lễ phát huân chương Độc Lập. 

– Từ thập niên 80, dưới sức ép của các thầy lão thành, trường dạy lại Đạo Đức Hành Nghề. Tuy vậy, các bậc lão thành chưa được đứng trên bục, mà vị trí này vẫn dành cho các thầy Chính Trị. Họ viết ra giáo trình Đạo Đức Học, theo đúng quan điểm Mác-Lênin, tuy rất hay, nhưng cũng rất khó vận dụng vào ứng xử nghề nghiệp. Gần hai chục năm, sinh viên đã học và thi theo giáo trình này.

– Lời Thề tốt nghiệp cũng được phục hồi, nhưng chưa thể gọi đó là lời thể nghề nghiệp (ví dụ, “thề” giữ gìn kỷ luật)… 

3.6. Hãy thôi thuyết trình đạo đức. Mà dạy thái độ để tạo kỹ năng ứng xử.

Phương pháp sư phạm hiện đại cho thấy, trong giáo dục có 3 (và chỉ cần 3) mục tiêu: Kiến thức, Thực hành và Thái Độ.  

Phương pháp này vận dụng vào y học không những cho phép “tích cực hoá người học”, mà dạy mục tiêu “Thái Độ” chính là nhằm giúp người học ứng xử đúng khi giao tiếp với đối tượng nghề nghiệp (bệnh nhân, người nhà họ, đồng nghiệp và dân cư trong cộng đồng). Nói khác, điều cần đạt là sự hình thành kỹ năng giao tiếp cho người học. Ví dụ, họ phải có kỹ năng giải thích, kỹ năng thuyết phục, kỹ năng an ủi…v.v. Tóm lại, đó là dạy kỹ năng chung sống nói chung và phải dạy ngay từ bậc tiểu học. Lên bậc đại học, chính là môn học dạy ứng xử nghề nghiệp. Hoá ra, từ thời thuộc Pháp trường Y đã có môn này.

Nhớ rằng 4 trụ cột vững chắc của ngôi nhà Giáo Dục (được UNESCO đề ra cho thế kỷ XXI) là: Học để biết, học để làm, học để chung sống và học để tồn tại.   

4. Vài suy nghĩ về chất lượng đào tạo bác sĩ đa khoa hiện nay 

Trước năm 1975, muốn vào Trường Y khoa Sài Gòn chẳng hạn thì phải đậu được năm dự bị ĐH. Chương trình của năm này giống chương trình MCAT vậy. Do đó sinh viên y khoa trước năm 1975 là bảy năm, bây giờ còn sáu năm. 

Chương trình đào tạo y khoa tại Việt Nam chúng ta cũng giống các nước lân cận và đa số các nước châu Âu. Tuy nhiên, các nước châu Âu người ta đầu tư bài bản cho nên dạy và học, mỗi trường y khoa hằng năm không tuyển quá 100 sinh viên. 

Trên thế giới, chương trình khoa học cơ bản trong trường y khoa những năm đầu rất quan trọng, sau đó chương trình y học lâm sàng cũng rất nặng, kể cả việc giảng dạy lý thuyết và hướng dẫn sinh viên tại giường bệnh phải cần đội ngũ thầy cô giỏi, họ không chỉ là những người luôn hiểu biết kiến thức y khoa sâu, rộng trong ngành mà còn là hình ảnh đạo đức chuẩn mực trong ngành y cũng như trong cuộc sống. 

Còn hiện tại ở Việt Nam chúng ta, vì nhu cầu bác sĩ để phục vụ xã hội quá cao mà thời gian đào tạo bác sĩ lại dài, những yếu tố đó làm chúng ta dễ thỏa hiệp ước muốn giảng dạy bác sĩ giống như giảng dạy ngành nghề khác. 

Với tình trạng này thì hiện tại bệnh nhân đang trở thành hàng hóa (nơi phổ cập ISO thì gọi là khách hàng). Bác sĩ cũng đang biến mình thành loại hàng hóa. Bác sĩ tự “treo giá” và bên phía tìm kiếm nguồn lực nhân sự chuyên môn cũng đang đau đầu về việc lập giá để tuyển nhân sự, nhất là ở bệnh viện, phòng khám tư nhân. Tay nghề bác sĩ và chính sách để có nguồn nhân lực chuyên môn của chúng ta hiện tại đang có chênh nhau rất nhiều so với thế giới. 

Mặt khác, thực trạng sinh viên y khoa đông, thiếu thầy hướng dẫn lâm sàng. Thầy phải chịu áp lực quá nhiều công việc công và tư, thời gian dành cho sinh viên không nhiều, thiếu kinh phí đầu tư cơ sở hạ tầng. Sự giúp đỡ của nhà trường và thầy đối với sinh viên còn hạn chế, không đủ năng lực trực tiếp chỉ dạy, do đó chất lượng thấp là điều dể hiểu. 

Nhà nước cần thông thoáng hơn, cho phép mở trường y khoa hoặc khoa y với điều kiện cao hơn: Mức đầu tư/sinh viên phải cao (hiện nay chi phí đào tạo cho một sinh viên y khoa là 36 triệu đồng đồng/năm, so với nước ngoài trung bình từ 30.000 đến 80.000 USD/năm), hợp tác quốc tế trong đầu tư, liên kết đào tạo y khoa, thay đổi chương trình dạy y khoa, tạo chủ động cho sinh viên hơn, tránh học từ chương, chấp nhận chương trình giảng dạy ở các nước tiên tiến như Hoa Kỳ chẳng hạn. Không cần phải nghiên cứu thêm gì khác vì người ta đã thành công hàng trăm năm rồi. Nên chấp nhận quan điểm “muốn có bác sĩ chất lượng cao thì giá phải đắt”, đã trả giá đắt rồi thì người bệnh được trả giá thấp hơn, xã hội sẽ tiết kiệm được nhiều hơn từ y tế. 

Hiện tại chúng ta có trên 15 trường ĐH y khoa công lập và có một số khoa y của trường ĐH tư thục đang hoạt động là tương đối ổn nhưng cũng có thể mở một vài trường y nữa với chất lượng cao. Vấn đề là chúng ta phải “tập thay đổi chương trình và phương pháp giảng dạy”. Thí dụ nên tuyển đầu vào là cử nhân ĐH Khoa học Tự nhiên hoặc ĐH Tổng hợp hoặc những trường ĐH có những môn học phù hợp để sinh viên có thể thi vào trường y khoa. Chúng ta có nhiều chương trình đào tạo sinh viên y khoa như đào tạo sáu năm, tám năm (bốn cử nhân khoa học + bốn năm y khoa) chẳng hạn. 

Tình trạng thiếu bác sĩ ở Việt Nam, đặc biệt ở các vùng như Đồng bằng sông Cửu Long, rất nghiêm trọng và đã kéo dài qua nhiều năm nhưng vẫn chưa cải tiến. Trước nhu cầu lớn như thế, không ngạc nhiên khi các quan chức muốn mở rộng các chương trình đào tạo y khoa. Nhưng cũng như bất cứ ngành nghề nào, số lượng và phẩm chất là hai khía cạnh rất khác nhau. Trong ngành y, vì có liên quan đến tính mạng của con người, nên phẩm chất đào tạo – chứ không phải số lượng – cần phải xem là ưu tiên hàng đầu.

Tuy nhiều người phàn nàn rằng Việt Nam thiếu bác sĩ, nhưng con số thực tế cho thấy một bức tranh khác. Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới, ở VN cứ 10,000 dân thì có 12 bác sĩ, và con số này tương đương (hoặc cao hơn) so với Thái Lan và Malaysia (12 trên 1 vạn dân), nhưng thấp hơn so với các nước Âu châu (khoảng 40 bác sĩ trên 1 vạn dân). Tuy nhiên, tình trạng thiếu bác sĩ ở vùng ĐBSCL có thể xem là nghiêm trọng. Tính trung bình, cứ 10,000 dân trong vùng ĐBSCL chỉ có 5~6 bác sĩ, tức chỉ bằng phân nửa tỉ lệ quốc gia.

Đứng trước tình hình thiếu thốn bác sĩ và nhu cầu sức khoẻ đặt ra trong cộng đồng, không ai ngạc nhiên khi các quan chức nóng lòng đào tạo nhiều bác sĩ để đáp ứng nhu cầu. Nhưng cũng vì sự hấp tấp này mà một số chương trình đào tạo y khoa ở ĐBSCL được xem là “không giống ai”. Thật ra, có thể nói rằng hầu hết các chương trình đào tạo y khoa, nhất là sau đại học, của VN cũng khác với thế giới. 

Ở Việt Nam sinh viên có thể theo học ngành y theo chương trình “cử tuyển” hay nâng cấp từ y sĩ trung cấp thành bác sĩ. Ngành y có liên quan mật thiết đến con người, do đó, những người theo học phải được tuyển chọn rất cẩn thận, chứ không có cử tuyển. Ứng viên không chỉ phải có điểm tốt nghiệp trung học rất cao, mà còn phải qua một kì phỏng vấn để sàng lọc những ứng viên thật sự có tâm. qui trình với các câu hỏi chủ yếu nhắm đến việc tuyển chọn những ứng viên thật sự quan tâm đến việc phục vụ người dân chứ không phải vào ngành y để … kiếm tiền.

Ở Việt Nam, chương trình học y khoa dành khá nhiều thời lượng (lên đến 25%) cho các môn học chính trị và kinh tế. Chẳng hạn như ở trường y, tổng số đơn vị học là 320, trong đó có đến 82 đơn vị là liên quan đến lịch sử triết học, triết học Mác Lê, Kinh tế chính trị Mác Lê, lịch sử Đang, chủ nghĩa xã hội khoa học, tư tưởng Hồ Chí Minh, v.v. trên thế giới, sinh viên y khoa không học các môn học chính trị và triết học hay kinh tế học; thay vào đó, họ học y đức và khoa học xã hội và nhân văn.

Thời gian đào tạo bác sĩ đa khoa ở các nước không khác so với Việt Nam, nhưng có khác biệt rất lớn về đào tạo bác sĩ chuyên khoa. Ở các nơi trên thế giới (có lẽ ngoại trừ China), không có chương trình đào tạo “Chuyên khoa I” và “Chuyên khoa II” như ở Việt Nam, và thời gian đào tạo cũng không phải chỉ 2-3 năm. Có thể nói rằng theo cái nhìn của thế giới, các bác sĩ chuyên khoa ở VN không phải là bác sĩ chuyên khoa như ở nước họ, nơi mà việc tuyển chọn rất khắt khe và chương trình đào tạo rất chặt chẽ.

Vấn đề chất lượng đào tạo ngành y ở Việt Nam được công chúng quan tâm trong thời gian gần đây. Theo thống kê, mỗi năm các trường y đào tạo được 6500 bác sĩ. Với một số lượng bác sĩ tốt nghiệp như thế, và những tai nạn nhiều như gần đây, thì không ngạc nhiên khi công chúng nêu vấn đề chất lượng. Nhưng ít ai nêu câu hỏi cụ thể: thế nào là chất lượng đào tạo trong ngành y.

Đầu vào ngành y ở VN rõ ràng không đồng đều. Ngoại trừ ở các đại học lớn và lâu đời thì điểm vào ngành y rất cao, còn các trường mới mở thì điểm chưa được xứng đáng với ngành y. Ngoài ra, tình trạng cử tuyển và đào tạo nâng cấp cũng là một vấn đề có thể ảnh hưởng đến chất lượng ngành y. Có thể tham khảo mô hình tuyển chọn của Úc và Mĩ, tức chuyển đào tạo bác sĩ sang mô hình sau đại học, theo đó ứng viên phải tốt nghiệp cử nhân với hạng tốt và phải qua một kì thi tuyển và phỏng vấn để nhận dạng người có khả năng. Dĩ nhiên, vẫn có cơ chế ưu tiên cho các ứng viên vùng sâu vùng xa, và phỏng vấn là một mô hình tuyển chọn rất tốt. 

Chương trình đào tạo ngành y ở VN (chỉ nói các trường lớn và tương đối lâu đời) về tên gọi và danh nghĩa cũng không khác so với các trường nước ngoài. Nhưng trong thực tế thì có sự khác biệt lớn về nội dung và cơ sở vật chất giữa các nước và Việt Nam. Ở nhiều nơi trên thế giới (ngay cả Thái Lan), sinh viên y khoa học khá nhiều về khoa học cơ bản và sinh học với thực hành trong labo, nhưng ở VN thì vẫn còn thiếu thầy cô có kinh nghiệm và labo cho sinh viên. Vì thế không ngạc nhiên khi rất nhiều bác sĩ VN chưa cập nhật nổi những kiến thức cơ bản về sinh học, di truyền học, và sinh hoá vốn rất quan trọng cho ngành y. Ngoài ra, nghiên cứu về sinh hoá ở các trường y VN còn rất lu mờ. Số bài báo khoa học quốc tế về sinh hoá của các trường y VN chỉ đếm đầu ngón tay, và phần lớn là do hợp tác với nước ngoài. Trong khi đó số bài báo về sinh học của một đại học Hàn Quốc (như Đại học quốc gia Seoul) đã cao gấp 2 lần tổng số bài báo về sinh học của Việt Nam.

Rất khó đánh giá chất lượng đầu ra, nhưng chúng ta có thể so sánh với một số nước chung quanh về tỉ lệ thi tuyển y khoa. Ở Úc, các bác sĩ tốt nghiệp ở ngoài nước Úc có thể hành nghề y nếu họ qua một kì kiểm định về kiến thức và kĩ năng lâm sàng do Hội đồng Y khoa Úc điều hành. Kết quả kiểm định của các bác sĩ tốt nghiệp từ Việt Nam không được khả quan. Chẳng hạn như năm 2009, có 19 bác sĩ thi về kiến thức y khoa, và chỉ có 7 người (~37%) được đỗ. Tỉ lệ này tương đối thấp khi so với bác sĩ Miến Điện (100% đỗ), Ấn Độ (52%), Nam Phi (68%), và Trung Quốc (43%). Tỉ lệ bác sĩ tốt nghiệp từ Việt Nam đỗ về lâm sàng cũng chỉ dao động trong khoảng 30-50%, và thấp hơn các bác sĩ từ các nước như Philippines, Ấn Độ và Miến Điện.

 Tổng hợp từ Nguyễn Ngọc Lanh, (nguyên GS đại học Y Hà Nội; NGND); Nguyễn Văn Tuấn(GS ĐH Úc), Bác sĩ Nguyễn Hữu Tùng (GĐ BV Hoàn Mỹ)…