MOLYPDEN
Molypden
là một nguyên tố vi lượng thiết yếu có trong tự nhiên ở nhiều loại thực phẩm và
cũng có sẵn dưới dạng thực phẩm bổ sung. Molypden là thành phần cấu tạo của
molybdopterin, một đồng yếu tố được cơ thể tổng hợp và cần thiết cho chức năng
của bốn enzyme: sulfite oxidase, xanthine oxidase, aldehyde oxidase và thành phần
khử amidoxime ty thể (mARC). Các enzyme này chuyển hóa các axit amin chứa lưu
huỳnh và các hợp chất dị vòng bao gồm purin và pyrimidin. Xanthine oxidase,
aldehyde oxidase và mARC cũng tham gia vào quá trình chuyển hóa thuốc và độc tố.
Molypden
dường như được hấp thụ thông qua một quá trình thụ động không qua trung gian, mặc
dù vị trí hấp thụ trong đường ruột vẫn chưa được biết. Người lớn hấp thụ từ 40%
đến 100% lượng molypden trong chế độ ăn uống. Trẻ sơ sinh hấp thụ gần như toàn
bộ molypden trong sữa mẹ hoặc sữa công thức.
Thận
là cơ quan điều chỉnh chính nồng độ molypden trong cơ thể và chịu trách nhiệm
bài tiết molypden. Molypden, dưới dạng molybdopterin, được lưu trữ trong gan,
thận, tuyến thượng thận và xương.
Vì
tình trạng thiếu molypden rất hiếm gặp, nên tình trạng molypden không được đánh
giá trong môi trường lâm sàng. Chưa có trường hợp nào được báo cáo về tình trạng
thiếu molypden, ngoại trừ ở những người có đột biến gen ngăn cản quá trình tổng
hợp molybdopterin và do đó ngăn cản quá trình tổng hợp sulfite oxidase. Trong
chứng rối loạn chuyển hóa hiếm gặp này, được gọi là thiếu hụt cofactor
molypden, đột biến ở một trong số các gen ngăn cản quá trình sinh tổng hợp molybdopterin.
Sự thiếu hụt molybdopterin làm suy giảm chức năng của các enzyme chuyển hóa
sulfite, dẫn đến bệnh não và co giật; tổn thương thần kinh rất nghiêm trọng và
thường dẫn đến tử vong trong vòng vài ngày sau khi sinh.
Một
trường hợp duy nhất được báo cáo về tình trạng thiếu molypden mắc phải xảy ra
vào năm 1981 ở một bệnh nhân được nuôi dưỡng hoàn toàn qua đường tĩnh mạch mà
không có molypden. Bệnh nhân bị nhịp tim nhanh, thở nhanh, đau đầu, quáng gà và
hôn mê. Các triệu chứng này đã được giải quyết bằng cách dùng molypden.
Các
loại đậu là nguồn molypden phong phú nhất. Các thực phẩm khác giàu molypden bao
gồm ngũ cốc nguyên hạt, các loại hạt và gan bò.
Các
nguồn molypden hàng đầu trong chế độ ăn của người Mỹ là các loại đậu, ngũ cốc,
rau lá xanh, gan bò và sữa. Các sản phẩm từ sữa và phô mai là nguồn molypden
chính cho thanh thiếu niên và trẻ em.
Lượng
molypden trong thực phẩm phụ thuộc vào lượng molypden trong đất và trong nước
dùng để tưới tiêu. Nước uống nói chung chỉ chứa một lượng nhỏ molypden. Tuy
nhiên, theo dữ liệu năm 2017 của Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ, 0,8% mẫu nước
uống có nồng độ molypden trên 40 mcg/L. Trung tâm Dữ liệu Thực phẩm của Bộ Nông
nghiệp Hoa Kỳ (USDA) không liệt kê hàm lượng molypden trong thực phẩm hoặc cung
cấp danh sách các loại thực phẩm có chứa molypden. Do đó, lượng thông tin về mức
độ molypden trong thực phẩm khá hạn chế.
- Vi khuẩn đề kháng kháng sinh
- Nguy cơ mắc Hội chứng Guillain-Barré sau nhiễm Dengue được xác nhận bằng xét nghiệm
- CÁC NHÀ NGHIÊN CỨU PHÁT HIỆN BIOMARKER CÓ THỂ GIÚP CẢI THIỆN ĐIỀU TRỊ BỆNH TÂM THẦN PHÂN LIỆT
- Bệnh tay chân miệng: Cập nhật đặc điểm lâm sàng, biến chứng và chiến lược phòng ngừa
- NHỮNG LÝ DO BẤT NGỜ ĐỂ NGỦ NHIỀU HƠN