Viêm da mủ hoại thư điển hình
Viêm da mủ hoại thư điển hình
Marcella Prete1 | Vito Racanelli2 | Patrizia Leone1 | Elvira Favoino3 | Federico Perosa3
1 Đơn vị Nội khoa, Khoa Y học liên ngành, Trường Y Đại học Bari, Bari, Ý
2 Trung tâm Khoa học Y khoa (CISMed), Khoa Nội, Bệnh viện Santa Chiara, Đại học Trento, Trento, Ý
3 Đơn vị Bệnh thấp khớp và Bệnh tự miễn hệ thống, Khoa Y học liên ngành, Trường Y Đại học Bari, Bari, Ý
Thông điệp lâm sàng chính. Viêm da mủ hoại thư là một bệnh da loét do viêm hiếm gặp, chưa rõ nguyên nhân. Chúng tôi báo cáo hình ảnh của một bệnh nhân bị viêm da mủ hoại thư với các vết loét ở chân phải có bờ màu tím, đặc trưng về mô học bởi thâm nhiễm tế bào đơn nhân và đa nhân. Bệnh nhân được điều trị thành công bằng cyclosporin A.
1 | TRÌNH BÀY CA BỆNH
Một phụ nữ 51 tuổi đến khám vì nhiều tổn thương ở chân phải, ban đầu có vẻ do chấn thương ở đầu gối dưới dạng một tổn thương đơn độc, sau đó tiến triển nặng dần khi các tổn thương tương tự xuất hiện khắp chân trong khoảng 1 năm. Bệnh nhân cho biết đã dùng prednisone 1 tháng trước đó (prednisone 0,5 mg/kg/ngày, sau đó giảm liều dần) nhưng không có hiệu quả. Tiền sử của bệnh nhân không ghi nhận dấu hiệu hay triệu chứng gợi ý bệnh viêm ruột, viêm khớp, rối loạn huyết học hoặc rối loạn tăng sinh tủy.
Khám thực thể thấy chân phải của bệnh nhân phủ đầy các tổn thương màu tím, trong đó có hai vết loét có mủ kích thước 8 cm ở vùng khoeo và vùng mắt cá ngoài (Hình 1A, B). Màu tím của bờ vết loét gợi ý viêm da mủ hoại thư (PG). Các xét nghiệm được thực hiện để loại trừ bệnh lý toàn thân có thể kèm theo, cho thấy các chỉ số viêm tăng nhẹ. Xét nghiệm huyết thanh học viêm gan B và C, HIV, lao và giang mai đều âm tính, sàng lọc tự miễn cũng âm tính. Nhiều mẫu cấy dịch vết loét tìm tác nhân gây bệnh đều âm tính. Sinh thiết da ở bờ vết loét cho thấy thâm nhiễm lan tỏa quanh mạch máu của các tế bào đơn nhân và đa nhân viêm, không có nhiễm trùng, phù hợp với PG¹.
Bệnh nhân bắt đầu được điều trị bằng cyclosporin A (2,5 mg/kg/ngày) và prednisone (50 mg/ngày, sau đó giảm liều dần), giúp cải thiện rõ rệt tình trạng lành vết loét mà không có tác dụng phụ đáng kể. Trong thời gian theo dõi 2 năm, không ghi nhận bằng chứng tái phát.
2 | BÀN LUẬN
PG là một bệnh da mạn tính do bạch cầu trung tính, đặc trưng bởi các sẩn hoặc mụn mủ ở da tiến triển nhanh thành các vết loét đau.² Cho đến nay, chưa có tiêu chuẩn chẩn đoán PG nào được thẩm định trong thực hành lâm sàng, và chẩn đoán nhầm thường xảy ra.¹ Chẩn đoán phân biệt PG phải bao gồm nhiễm trùng, bệnh ác tính và viêm mạch.³
Gần đây, Maverakis và cs.¹ đã xác định một bộ chín tiêu chí chẩn đoán PG, trong đó sinh thiết bờ vết loét cho thấy thâm nhiễm bạch cầu trung tính là tiêu chí chính duy nhất. Các tiêu chí phụ gồm: (a) loại trừ nhiễm trùng; (b) hiện tượng pathergy; (c) tiền sử viêm ruột hoặc viêm khớp do viêm; (d) sẩn, mụn mủ hoặc mụn nước loét nhanh; (e) ban đỏ ngoại vi, bờ loét bị đào khoét và đau tại vị trí loét; (f) nhiều vết loét, ít nhất một vết ở mặt trước dưới của chân; (g) sẹo dạng sàng hoặc “giấy nhăn” tại vị trí vết loét đã lành; và (h) kích thước vết loét giảm sau điều trị ức chế miễn dịch.¹
Báo cáo hình ảnh này gợi ý rằng các bác sĩ lâm sàng nên lưu ý đến tình trạng này và thăm khám tìm PG khi bệnh nhân có các vết loét với bờ màu tím, nhằm giúp lựa chọn đúng phương pháp điều trị và tránh biến chứng.
ĐÓNG GÓP CỦA CÁC TÁC GIẢ
Marcella Prete: Xây dựng ý tưởng; quản lý dữ liệu; khảo sát; viết bản thảo gốc. Vito Racanelli: Khảo sát; giám sát; viết – xem xét và hiệu chỉnh. Patrizia Leone: Khảo sát; trực quan hóa; viết – xem xét và hiệu chỉnh. Elvira Favoino: Quản lý dữ liệu; giám sát; trực quan hóa; viết bản thảo gốc. Federico Perosa: Xây dựng ý tưởng; quản lý dự án; nguồn lực; viết – xem xét và hiệu chỉnh.
THÔNG TIN TÀI TRỢ
Không có.
TUYÊN BỐ XUNG ĐỘT LỢI ÍCH
Các tác giả tuyên bố không có xung đột lợi ích.
TUYÊN BỐ VỀ TÍNH SẴN CÓ CỦA DỮ LIỆU
Dữ liệu hỗ trợ cho các kết quả của nghiên cứu này có thể được cung cấp bởi tác giả liên hệ khi có yêu cầu hợp lý.
SỰ ĐỒNG THUẬN
Đã có sự đồng ý bằng văn bản của bệnh nhân về việc công bố báo cáo này, phù hợp với chính sách về sự đồng thuận của bệnh nhân của tạp chí.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Maverakis E, Ma C, Shinkai K, et al. Diagnostic criteria of ulcerative pyoderma gangrenosum: a Delphi consensus of international experts. JAMA Dermatol. 2018;154(4):461-466.
2. Sanchez-Melendez SN, Malik R, Patel PM, Milosavljevic S, Patel S, Nambudiri VE. Pyoderma gangrenosum and impact on quality of life: a narrative review. Exp Dermatol. 2023;33. doi:10.1111/exd.14876
3. Alonso-León T, Hernández-Ramírez HH, Fonte-Avalos V, Toussaint-Caire S, Vega-Memije ME, Lozano-Platonoff A. The great imitator with no diagnostic test: pyoderma gangrenosum. Int Wound J. 2020;17(6):1774-1782.
- PHẪU THUẬT NỘI SOI ĐIỀU TRỊ U CUỘN NHĨ TẠI BỆNH VIỆN TAI MŨI HỌNG CẦN THƠ NĂM 2021
- Cúm A: Nhận biết triệu chứng, phòng ngừa biến chứng và chủ động bảo vệ sức khỏe
- BÉO PHÌ Ở TRẺ EM VÀ THANH THIẾU NIÊN: WHO CÔNG BỐ HƯỚNG DẪN TOÀN CẦU MỚI VỀ QUẢN LÝ VÀ ĐIỀU TRỊ
- Các thuốc chẹn thụ thể angiotensin II (ARB) không hoàn toàn giống nhau: Lựa chọn thuốc phù hợp trong thực hành lâm sàng
- Tin tức về dịch bệnh Viêm phổi không rõ nguyên nhân - Liên bang Nga