BỆNH EBOLA DO VIRUS BUNDIBUGYO GÂY RA - CỘNG HÒA DÂN CHỦ CONGO
Ngày 10 tháng 9 năm 2026, Tổ chức y tế thế giới (WHO) đã đưa ra
thông báo Y tế về dịch bệnh Ebola do virus Bundibugyo gây ra - Cộng hòa dân chủ
Congo
Tổng quan tình hình
Kể từ khi bản tin về dịch bệnh được công bố lần cuối vào ngày 28
tháng 8 năm 2026, dịch bệnh do virus Bundibugyo tại Cộng hòa Dân chủ Congo đã
lan rộng thêm một khu vực y tế nữa, Kayna, thuộc tỉnh Bắc Kivu. Sự gia tăng này
nâng tổng số khu vực y tế bị ảnh hưởng lên 61 trên 6 trong số 26 tỉnh của đất
nước: Bas-Uélé, Haut-Uélé, Ituri, Bắc Kivu, Nam Kivu và Tshopo. Tính đến ngày 7
tháng 9 năm 2026, Cộng hòa Dân chủ Congo đã báo cáo 6757 trường hợp được xác nhận,
bao gồm 3267 trường hợp tử vong, dẫn đến tỷ lệ tử vong thô (CFR) là 48,3%. Động
lực lây truyền vẫn khác nhau giữa các địa điểm bị ảnh hưởng, với bằng chứng về
sự mở rộng địa lý liên tục và sự gia tăng liên tục các trường hợp mắc bệnh ở một
số khu vực y tế. Tỷ lệ tử vong cao liên tục cho thấy mức độ nghiêm trọng của bệnh
và những thách thức dai dẳng trong việc phát hiện ca bệnh kịp thời, tiếp cận với
chăm sóc bệnh nhân sớm và đầy đủ, và ngăn chặn sự lây truyền hiệu quả. Việc
phát hiện ca bệnh chậm trễ tiếp tục làm tăng nguy cơ lây lan thêm trong các hộ
gia đình, cộng đồng và cơ sở chăm sóc sức khỏe.
Mô tả tình huống
Kể từ khi bản tin
về dịch bệnh được công bố vào ngày 28 tháng 8 năm 2026, chỉ có thêm
các trường hợp mắc bệnh và tử vong do bệnh virus Bundibugyo (BVD) được báo cáo
tại Cộng hòa Dân chủ Congo.
Tính đến ngày 7 tháng 9 năm 2026, tổng số ca nhiễm được xác nhận là
6778: 6757 ca tại Cộng hòa Dân chủ Congo (bao gồm hai ca được chẩn đoán tại Cộng
hòa Dân chủ Congo và sau đó được điều trị tại Đức), 20 ca tại Uganda và một ca
tại Pháp. Tổng cộng đã có 3269 trường hợp tử vong, trong đó có hai trường hợp tại
Uganda. Tính đến ngày 7 tháng 9, ít nhất 1611 bệnh nhân đã hồi phục, bao gồm
1590 người tại Cộng hòa Dân chủ Congo, 18 người tại Uganda, hai người tại Đức
và một người tại Pháp.
Tình trạng lây nhiễm kéo dài ở Cộng hòa Dân chủ Congo tiếp tục tiềm ẩn
nguy cơ lây lan xuyên biên giới. Các hoạt động sàng lọc và giám sát sức khỏe vẫn
được duy trì tại các sân bay, cảng biển và các cửa khẩu biên giới đường bộ
chính thức; tuy nhiên, việc đi lại qua các tuyến đường vượt biên không chính thức
vẫn tiếp diễn và có thể tạo điều kiện cho việc xuất khẩu, nhập khẩu virus và
lây truyền sau đó. Trong bối cảnh này, việc tăng cường phối hợp xuyên biên giới,
cùng với các nỗ lực giám sát và chuẩn bị liên tục, vẫn rất quan trọng để hạn chế
sự lây lan hơn nữa trong khu vực và hỗ trợ một phản ứng y tế công cộng hiệu quả.
Hình
1. Phân bố số ca mắc bệnh do virus Bundibugyo được xác nhận tích lũy tại Cộng
hòa Dân chủ Congo, tính đến ngày 7 tháng 9.
Cộng hòa Dân chủ Congo
Kể từ khi bản tin
về dịch bệnh được công bố vào ngày 28 tháng 8 năm 2026, đã có thêm 963
trường hợp mắc bệnh được xác nhận, bao gồm 481 trường hợp tử vong, được báo cáo
tại Cộng hòa Dân chủ Congo. Mặc dù một phần sự gia tăng này có thể là do các hoạt
động giám sát được tăng cường, xét nghiệm trong phòng thí nghiệm được nâng cao,
năng lực chẩn đoán được cải thiện và việc đối chiếu các dữ liệu chưa được báo
cáo trước đó, nhưng sự gia tăng liên tục cả về số ca mắc bệnh và số ca tử vong
cũng phản ánh sự lây truyền trong cộng đồng kéo dài và sự mở rộng đáng kể về mặt
địa lý của dịch bệnh. Tính đến ngày 7 tháng 9, Cộng hòa Dân chủ Congo đã báo
cáo tổng cộng 6757 trường hợp mắc bệnh được xác nhận, bao gồm 3267 trường hợp tử
vong (tỷ lệ tử vong 48,3%). Tổng cộng 1590 bệnh nhân đã hồi phục cho đến nay.
Đã có các trường hợp nhiễm bệnh được xác nhận tại 61 khu vực y tế
(HZ) thuộc sáu tỉnh, trong đó 51 HZ từ năm tỉnh báo cáo ít nhất một trường hợp
trong 21 ngày qua. Ituri vẫn là tỉnh bị ảnh hưởng nặng nhất, với 28 trong số 36
khu vực y tế báo cáo các trường hợp nhiễm bệnh, tiếp theo là Bắc Kivu (16/34),
Tshopo (7/23), Haut-Uélé (6/13), Bas-Uélé (3/11) và Nam Kivu (1/34). Không có
trường hợp mới nào được báo cáo từ tỉnh Nam Kivu kể từ ngày 29 tháng 5 năm
2026. Khu vực y tế Kayna thuộc tỉnh Bắc Kivu là khu vực bị ảnh hưởng gần đây nhất.
Tính đến ngày 7 tháng 9, 71 trường hợp nhiễm bệnh mới đã được xác nhận trong 24
giờ trước đó từ 17 khu vực y tế thuộc các tỉnh Ituri, Bắc Kivu và Haut-Uélé.
Ituri tiếp tục là tâm điểm của dịch bệnh, ghi nhận 5406 ca nhiễm được
xác nhận kể từ khi dịch bùng phát, bao gồm 1114 ca nhiễm mới được báo cáo trong
21 ngày qua, tính đến ngày 7 tháng 9. Bắc Kivu là tỉnh bị ảnh hưởng nhiều thứ
hai, với tổng số 1066 ca nhiễm được xác nhận, bao gồm 453 ca được báo cáo trong
21 ngày qua, tính đến ngày 7 tháng 9. Một trong những tỷ lệ tử vong cao nhất
(65,4%) được ghi nhận trong đợt dịch này là ở tỉnh Bắc Kivu; và các cuộc điều
tra đang được tiến hành để hiểu rõ hơn các yếu tố góp phần vào tỷ lệ tử vong
cao này.
Số lượng cá nhân cần được theo dõi do tiếp xúc cũng tăng lên đáng kể
cùng với sự lan rộng của dịch bệnh. Tính đến ngày 7 tháng 9, 85,3% số người tiếp
xúc được xác định đã được theo dõi thành công trong 24 giờ trước đó, với 21.359
người tiếp xúc trong tổng số 24.719 người cần được theo dõi. Khối lượng lớn người
tiếp xúc đang được giám sát cho thấy mức độ phơi nhiễm tiềm tàng trong các cộng
đồng bị ảnh hưởng và những yêu cầu đáng kể đặt ra cho các hoạt động ứng phó.
Dịch bệnh tiếp tục diễn biến trong bối cảnh nhân đạo phức tạp, đặc
trưng bởi tình trạng bất ổn, xung đột vũ trang và di cư dân số trên diện rộng.
Hơn 26 triệu người đang phải đối mặt với tình trạng thiếu lương thực trầm trọng,
trong khi riêng tỉnh Ituri đã có khoảng một triệu người phải di tản trong nước.
Tình trạng bất ổn và di tản kéo dài hạn chế khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc
sức khỏe và các dịch vụ thiết yếu, cản trở khả năng tiếp cận các khu vực bị ảnh
hưởng của các đội ứng phó, và gây khó khăn cho các hoạt động giám sát, điều tra
ca bệnh và truy vết tiếp xúc. Tình trạng quá tải dân số, thiếu nước sạch, dịch
vụ vệ sinh và hạn chế tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại các cộng đồng khai
thác mỏ, khu định cư không chính thức và các khu vực dành cho người di tản
trong nước càng làm suy yếu việc phát hiện sớm ca bệnh, các biện pháp phòng ngừa
và kiểm soát lây nhiễm, cũng như việc cung cấp dịch vụ chăm sóc kịp thời. Những
điều kiện này cũng làm giảm hiệu quả của các biện pháp can thiệp ứng phó và nỗ
lực tiếp cận cộng đồng.
Hình
2: Số ca mắc bệnh do virus Bundibugyo được xác nhận tại Cộng hòa Dân chủ Congo,
theo ngày thông báo, tính đến ngày 7 tháng 9 năm 2026.
Hình
3: Số ca tử vong trong số các trường hợp mắc bệnh do virus Bundibugyo được xác
nhận tại Cộng hòa Dân chủ Congo theo ngày thông báo, tính đến ngày 7 tháng 9
năm 2026.
Dịch tễ học
Bệnh do virus Bundibugyo (BVD) là một dạng bệnh Ebola nghiêm trọng
do virus Bundibugyo gây ra, một trong các loài Orthoebolavirus. Đây
là một bệnh truyền nhiễm từ động vật sang người, với dơi ăn quả được cho là vật
chủ tự nhiên.
Người ta cho rằng sự lây nhiễm ở người xảy ra do tiếp xúc gần với
máu hoặc dịch tiết của động vật hoang dã bị nhiễm bệnh, chẳng hạn như dơi hoặc
linh trưởng không phải người, và sau đó lây lan từ người sang người thông qua
tiếp xúc trực tiếp với máu, dịch tiết, nội tạng hoặc các dịch cơ thể khác của
người bị nhiễm bệnh hoặc các bề mặt và vật liệu bị ô nhiễm. Sự lây truyền đặc
biệt mạnh trong môi trường chăm sóc sức khỏe khi các biện pháp kiểm soát nhiễm
khuẩn không đầy đủ và trong các hoạt động chôn cất không an toàn liên quan đến
tiếp xúc trực tiếp với người đã khuất.
Thời gian ủ bệnh BVD dao động từ 2 đến 21 ngày, và người nhiễm bệnh
không lây nhiễm cho đến khi xuất hiện triệu chứng. Các triệu chứng ban đầu như
sốt, mệt mỏi, đau cơ, đau đầu và đau họng không đặc hiệu, điều này làm phức tạp
chẩn đoán lâm sàng và có thể làm chậm phát hiện bệnh. Sau đó, các triệu chứng
này tiến triển thành các triệu chứng về đường tiêu hóa, rối loạn chức năng nội
tạng và trong một số trường hợp, biểu hiện xuất huyết.
Tỷ lệ tử vong (CFR) trong lịch sử từ hai đợt bùng phát BVD trước
đây, được báo cáo ở Uganda và Cộng hòa Dân chủ Congo vào năm 2007 và 2012, lần
lượt là 30% và 50%.
Việc phân biệt BVD với các bệnh sốt đặc hữu khác như sốt rét rất khó
khăn nếu không có xác nhận trong phòng thí nghiệm bằng phương pháp phản ứng chuỗi
polymerase (PCR) hoặc các xét nghiệm dựa trên kháng nguyên hoặc kháng thể. Kiểm
soát dịch bệnh phụ thuộc vào việc xác định ca bệnh nhanh chóng, cách ly và chăm
sóc, truy vết tiếp xúc, chôn cất an toàn và sự tham gia tích cực của cộng đồng,
vì hiện tại chưa có vắc-xin hoặc phương pháp điều trị đặc hiệu nào được phê duyệt
cho BVD.
Kể từ khi được phát hiện lần đầu vào tháng 5 năm 2026, dịch bệnh BVD
này đã nhanh chóng phát triển thành một đại dịch lớn và lan rộng về mặt địa lý
tại Cộng hòa Dân chủ Congo, với sự lây truyền liên tục, tỷ lệ tử vong cao và
nguy cơ lây lan quốc tế ngày càng tăng. Đợt bùng phát hiện tại là đợt bùng phát
bệnh do virus Bundibugyo thứ hai được ghi nhận tại nước này, sau đợt bùng phát
năm 2012, và là đợt bùng phát bệnh Ebola lớn nhất từng được ghi nhận tại Cộng
hòa Dân chủ Congo, bất kể chủng virus Ebola nào. Những người có nguy cơ phơi
nhiễm cao nhất tập trung ở các cộng đồng sinh sống và di chuyển trong các khu vực
y tế đang có sự lây truyền mạnh.
Phản ứng y tế công cộng
Để biết thông tin chi tiết về các hoạt động ứng phó y tế công cộng
đang diễn ra của Bộ Y tế, WHO và các đối tác, vui lòng tham khảo các báo cáo
tình hình mới nhất do Văn phòng Khu vực Châu Phi của WHO công bố: Dịch
bệnh đang diễn ra tại Cộng hòa Dân chủ Congo trên wibsite
Các cơ quan y tế tại Cộng hòa Dân chủ Congo, phối hợp với WHO và các
đối tác, đang tiếp tục triển khai và điều phối các biện pháp y tế công cộng quy
mô lớn, bao gồm giám sát dịch bệnh, xét nghiệm trong phòng thí nghiệm, phòng ngừa
và kiểm soát nhiễm trùng, chăm sóc lâm sàng, sự tham gia của cộng đồng, nghiên
cứu, hậu cần và hỗ trợ cho các biện pháp ứng phó và các dịch vụ y tế thiết yếu,
đồng thời thu hút các nhà tài trợ và huy động thêm nguồn lực để giải quyết những
thiếu hụt tài chính nghiêm trọng và duy trì các hoạt động ứng phó trên khắp các
khu vực bị ảnh hưởng và có nguy cơ. Một quá trình mở rộng đáng kể đang được tiến
hành trên tất cả các trụ cột ứng phó để chủ động ngăn chặn sự bùng phát dịch bệnh.
Đánh giá rủi ro của WHO
Ngày 14 tháng 8 năm 2026, WHO đã đánh giá lại nguy cơ bùng phát dịch
BVD, kết hợp các thông tin mới nhất về tình hình đang diễn biến. Nguy cơ đối với
các quốc gia có chung biên giới đất liền với Cộng hòa Dân chủ Congo được tách biệt
khỏi nguy cơ đối với các quốc gia khác trong khu vực châu Phi.
Rủi ro tại Cộng hòa Dân chủ Congo được đánh giá là rất cao, rủi ro đối
với các quốc gia có chung biên giới đất liền với Cộng hòa Dân chủ Congo cũng được
đánh giá là cao, còn rủi ro đối với phần còn lại của khu vực châu Phi và trên
toàn cầu lại được đánh giá là thấp.
Lời khuyên của WHO
Dựa trên thông tin hiện có, WHO khuyến cáo không nên áp đặt bất kỳ hạn
chế nào đối với việc đi lại hoặc giao thương với các quốc gia bị ảnh hưởng. WHO
tiếp tục theo dõi chặt chẽ và, nếu cần thiết, xác minh các biện pháp đi lại và
thương mại liên quan đến sự kiện này.
Các
Khuyến nghị Tạm thời được cập nhật ban hành cho các Quốc gia
Thành viên vào ngày 24 tháng 8 năm 2026 nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kiểm
soát dịch bệnh phối hợp, tăng cường hợp tác xuyên biên giới, và duy trì giám
sát và chuẩn bị để ngăn chặn sự lây lan thêm trong khu vực và đảm bảo phản ứng
y tế công cộng hiệu quả. Việc nhanh chóng nhận biết các trường hợp mắc bệnh,
xét nghiệm và chăm sóc hỗ trợ tối ưu có thể làm giảm tỷ lệ tử vong và cải thiện
nhận thức cũng như sự chấp nhận của cộng đồng đối với chăm sóc sức khỏe trong
quá trình ứng phó.
Ngày 7 tháng 8, Nhóm Tư vấn Kỹ thuật của WHO về ưu tiên vắc-xin ứng
cử viên đã công bố một báo cáo liên quan đến các vắc-xin ứng cử viên tiềm năng
cho bệnh do virus Bundibugyo gây ra. Các thành viên khuyến nghị rằng Ervebo, vắc-xin
Ebola duy nhất được cấp phép (trước đây được gọi là ebolavirus Zaire), nên được
ưu tiên đưa vào thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên trong bối cảnh dịch bệnh đang diễn
ra ở Cộng hòa Dân chủ Congo. Sau khi xem xét thêm bằng chứng vào ngày 19 tháng
8 năm 2026, Nhóm Chuyên gia Tư vấn Chiến lược về Tiêm chủng (SAGE) của WHO kết
luận rằng bằng chứng hiện có vẫn chưa đủ để hỗ trợ việc sử dụng Ervebo trong
chương trình phòng ngừa BVD, và hiệu quả của nó đối với BVD ở người vẫn chưa được
biết. Do đó, WHO khuyến nghị rằng Ervebo chỉ nên được sử dụng cho BVD trong
khuôn khổ một nghiên cứu. Việc tiêm chủng Ervebo cho nhân viên y tế và nhân
viên tuyến đầu hiện đang được tiến hành. Tính đến ngày 6 tháng 9 năm 2026, tổng
cộng 2007 người đã được tiêm chủng trên sáu khu vực y tế ở ba tỉnh: Tshopo,
Bas-Uélé và Ituri.
Ngày 2 tháng 7, một thử nghiệm lâm sàng nhằm tìm ra phương pháp điều
trị hiệu quả chống lại BVD đã bắt đầu tuyển bệnh nhân. Thử nghiệm này, được gọi
là thử nghiệm PARTNERS, hiện đang được tiến hành tại năm cơ sở quản lý lâm sàng
khác nhau ở tỉnh Ituri và đã tuyển chọn hơn 300 người được xác nhận mắc bệnh.
Link bài viết: https://www.who.int/emergencies/disease-outbreak-news/item/2026-DON617
- VACCINE THỦY ĐẬU – CHỦ ĐỘNG PHÒNG BỆNH VÀ NHỮNG BIẾN CHỨNG NGUY HIỂM
- ĐIỀU TRỊ ĐAU MẠN TÍNH: TÌM KIẾM NHỮNG LỰA CHỌN MỚI
- MÔI TRƯỜNG THỰC PHẨM ĐÔ THỊ VÀ SỨC KHỎE: VÌ SAO NƠI CHÚNG TA SỐNG CÓ THỂ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÁCH CHÚNG TA ĂN?
- XOA BÓP – BẤM HUYỆT TRONG PHỤC HỒI CHỨC NĂNG: SỰ KẾT HỢP GIỮA Y HỌC CỔ TRUYỀN VÀ Y HỌC HIỆN ĐẠI
- SÁNG KIẾN GLINTS: ĐỒNG THUẬN TOÀN CẦU VỀ CHỈ ĐỊNH LIỆU PHÁP VÀ HỖ TRỢ DINH DƯỠNG LÂM SÀNG


